Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC CỦA BIỂU TƢỢNG TRONG CA DAO - DÂN CA DÂN TỘC THÁI Khi tìm hiểu về các biểu tƣợng trong văn học dân gian nói chung và biểu tƣợng trong ca dao - dân ca nói riêng, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, ở chiều sâu của nó các biểu tƣợng đều có một tầng nền lịch sử - xã hội. Thế nhƣng, tìm hiểu cặn kẽ nguồn gốc của từng biểu tƣợng là điều không đơn giản. Biểu tƣợng trong ca dao - dân ca dân tộc Thái đƣợc sinh ra, nuôi dƣỡng và lớn lên không chỉ trên mảnh đất của ca dao - dân ca mà còn trên mảnh đất của các loại hình văn hóa, văn nghệ khác. Bên cạnh đó, trong mỗi một biểu tƣợng chứa đựng trong đó nhiều bí ẩn về sự ra đời, tồn tại và phát triển của lịch sử - xã hội, phong tục tập quán, tín ngƣỡng.
của dân tộc Thái. Chính vì lẽ đó, lĩnh hội đƣợc nghĩa biểu trƣng của biểu tƣợng trong ca dao - dân ca dân tộc Thái không phải lúc nào cũng dễ dàng. Bƣớc đầu tìm hiểu, chúng tôi cho rằng biểu tƣợng trong ca dao - dân ca dân tộc Thái đƣợc hình thành từ hai mạch nguồn cơ bản sau đây: 1. Những biểu tượng xuất phát từ tín ngưỡng - nghi lễ và phong tục, tập quán của dân tộc Thái Từ xa xƣa, ngƣời Thái sống ở những vùng đất có nhiều mối nguy hiểm từ thiên nhiên và nguy cơ của sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài.
Để chế ngự sức mạnh của thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con ngƣời, dân tộc Thái biết đắp đập ngăn các dòng suối, đào mƣơng lấy nƣớc làm ruộng, dựng nhà sàn để tránh thú dữ. Họ tôn thờ các con vật gần gũi trong cuộc sống, những ngƣời có sức mạnh trở thành những vị thần để bảo vệ sức khỏe, mùa màng cho bản làng, gia đình. Ngƣời Thái còn dùng nhiều vật dụng trong cuộc sống, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thổi hồn và gắn cho nó một ý nghĩa tâm linh. Do đó, tín ngƣỡng tâm linh luôn song hành cùng các nghi lễ đƣợc diễn ra hàng năm nhƣ: lễ cầu mùa, mừng cơm mới, làm vía cầu sức khỏe.
Ngƣời Thái cũng có rất nhiều lễ hội, thông qua các lễ hội đồng bào bày tỏ sự kính trọng và biết ơn đến những ngƣời đã có công khai phá và bảo vệ bản mƣờng. Đồng thời, đó cũng là thời gian để họ tăng cƣờng sự đoàn kết trong cộng đồng và để đƣợc vui chơi, giải trí. Đời sống tâm linh của ngƣời Thái rất giàu bản sắc. Chính vì vậy, những biểu tƣợng đƣợc hình thành từ tín ngƣỡng - nghi lễ và phong tục, tập quán trong ca dao - dân ca Thái rất đa dạng và phong phú.
Các biểu tƣợng trong ca dao - dân ca dân tộc Thái đƣợc hình thành từ tín ngƣỡng- nghi lễ, và phong tục, tập quán nhƣ: Rồng, sợi chỉ, vòng đồng, vòng bạc, chiếc áo, khăn piêu, trầu cau, đôi đũa, hạn khuống. Dƣới đây là một vài lý giải về nguồn gốc của một số biểu tƣợng tiêu biểu.1 Biểu tượng rồng Biểu tƣợng rồng có nguồn gốc từ các thần thoại, truyền thuyết, từ phong tục, tập quán và tín ngƣỡng của các dân tộc sống ở khu vực Châu Á, trong đó có dân tộc Việt, dân tộc Thái. Rồng là con vật tƣởng tƣợng, đƣợc xếp ở vị trí đứng đầu trong bộ tứ linh “long, ly, quy, phụng”. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên mẫu của con rồng là con cá sấu, rắn hoặc thuồng luồng.
Có thuyết cho rằng, con rồng bắt nguồn từ Trung Quốc, từ đó hình ảnh con vật này mới lan sang các quốc gia khác, thậm chí sang đến tận các nƣớc Châu Âu. Chính vì lẽ đó, trên con đƣờng thiên di hình ảnh con vật thần thoại này có sự thay đổi theo nếp nghĩ của cƣ dân sống ở các vùng miền địa lý khác nhau. Vì là con vật không có thực, nên tùy theo lối tƣ duy và thị hiếu thẩm mỹ của từng dân tộc, từng khu vực mà hình ảnh rồng cũng đƣợc thay đổi cho phù hợp. Trong khi ngƣời phƣơng Đông coi con rồng là vật linh thiêng, tƣợng trƣng cho vẻ đẹp hoàn mỹ và sức mạnh phi thƣờng, thì với ngƣời phƣơng 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tây, rồng là con vật đầu chó, cánh dơi, vuốt sƣ tử, đuôi rắn tƣợng trƣng cho sức mạnh ma quỉ, chuyên quấy rối, hại ngƣời [22, tr 58].
Trên đất nƣớc ta, từ lâu đã truyền tụng câu chuyện Con Rồng, cháu Tiên. Tổ tiên của ngƣời Việt có cha là Lạc Long Quân mang trong mình nòi rồng, mình rồng và mẹ Âu Cơ, dòng dõi tiên. Nhiều chứng cứ khoa học cho rằng, biểu tƣợng rồng của ngƣời Việt có nguồn gốc từ Việt Nam, Đông Nam Á. Trong đó, đáng chú ý nhƣ kết quả khảo cứu về phong tục học, khảo cổ học.
đã góp phần khẳng định quan điểm này. Trên các công trình kiến trúc của dân tộc Việt nhƣ cung điện, đình, chùa, đền, miếu. rồng trở thành một mô típ trang trí phổ biến. Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, ngƣời Việt thƣờng dùng hình ảnh rồng để diễn đạt những suy nghĩ, những tƣ tƣởng của mình nhƣ: rồng bay phƣợng múa, đầu rồng đuôi tôm, trứng rồng rồi lại nở ra rồng.
Ở thời kỳ phong kiến, rồng là biểu tƣợng của quyền lực giai cấp thống trị. Khi nhắc đến rồng là phải cẩn trọng để tránh xúc phạm đến nhà vua, tránh bị khép vào tội khi quân phạm thượng. Tuy nhiên, trong dân gian, ngƣời Việt hay ví von mình với con vật tƣợng trƣng cho quyền uy đó. Việc bình dân hóa biểu tƣợng này giúp chúng ta hiểu thêm về thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân.
Đối với dân tộc Thái, đồng bào quan niệm rồng (tô ngước) là con vật đẹp nhất, đáng yêu nhất. Rồng là biểu tƣợng của những gì tốt đẹp nhất: Sự biến đổi, phát triển, thanh bình và hạnh phúc. Ngƣời Thái cho rằng, rồng có nhiều loại nhƣ: Rồng đất (ngước đín), rồng nƣớc (ngước nặm), rồng ngƣời (ngước cưn), rồng còn (ngước còn). đó là biểu tƣợng của hồn sông đất nƣớc, hồn của cải.
Trong trí tƣởng tƣợng của ngƣời Thái xƣa, rồng có thân hình vuông, đuôi dài, thân và đuôi đều có tua với nhiều mầu sắc rực rỡ. Chính vì vậy, con rồng đã đƣợc dân tộc Thái thổi hồn vào quả còn, một vật quen thuộc 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong trò chơi dân gian mang đậm tính phồn thực: tung còn. Theo họ, rồng còn thƣờng bay theo quỹ đạo vòng cung, nhƣ dáng cầu vồng. Năm nào rồng còn xuất hiện nhiều thì mƣa thuận gió hòa, dân bản khỏe mạnh yên vui, vụ mùa xanh tốt bội thu.
Rồng xuất hiện trong ca dao - dân ca Thái nhƣ một biểu tƣợng với ý nghĩa ƣớc mong cầu sức khỏe, hạnh phúc: …Vía thuôn nhƣ con én Vía lấp lánh nhƣ con rồng Rồng xuống nƣớc không chìm Rồng xuống cát xuống đá không mờ không mốc… (2, tr. 543) Trong thực tế đời sống tín ngƣỡng của dân tộc Thái ở một số vùng tại Việt Nam, rồng trong suy nghĩ của họ thực chất là con thuồng luồng. Điều đó lí giải, trong rất nhiều truyện cổ của ngƣời Thái có xuất hiện mô típ con thuồng luồng nhƣ là một sự báo hiệu những điều không may mắn. Ngƣời Thái ở Mai Châu, Mộc Châu, Thuận Châu tỉnh Sơn La trƣớc đây thƣờng tổ chức lễ hội cầu an cho bản mƣờng vào cuối tháng Giêng, đầu tháng hai âm lịch hàng năm, gắn với tục giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh, đƣợc biểu hiện qua hình tƣợng con thuồng luồng (hình tƣợng thủy thần, con rồng) hoặc qua tiếng sấm.
Lễ hội nhằm cầu mong mùa màng bội thu, sức khỏe cho cộng đồng. Con thuồng luồng (rồng nƣớc) trong đời sống tâm linh của ngƣời Thái ở Việt Nam có một vị trí rất quan trọng. Nó xuất phát từ thực tiễn đời sống lao động, sản xuất nông nghiệp và nghề chài lƣới trên sông của dân tộc này. Nghi lễ trong lễ hội cầu an của ngƣời Thái liên quan đến con rồng (thuồng luồng) cơ bản là hiến sinh trâu (nơi là một cặp trâu đực to, trắng - đen, nơi thì một con, nhiều nơi cúng cả gà, lợn).
Ở Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong lễ xên bản, xên mƣờng, ngƣời ta hiến tế cặp trâu đen - trắng cỡ từ mƣời tuổi trở lên. Hai trâu, nhƣng trâu trắng mới thực sự mang năng lƣợng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là thủy quái thuồng luồng, con ma to nhất dƣới nƣớc mà bà con thƣờng gọi là phi ngƣợc). Tóm lại, con rồng, theo quan niệm của ngƣời Thái có rất nhiều loại (nhƣ đã nói ở trên) và nó có hai mặt tốt và xấu. Cho nên, biểu tƣợng con rồng xuất hiện trong ca dao – dân ca Thái cũng ở những cung bậc trạng thái, nghĩa biểu trƣng không giống nhau nhƣ là điều may rủi, hạnh phúc, khổ đau, sung sƣớng hoặc khó khăn.
Biểu tượng trầu cau Trầu, cau là biểu tƣợng có nguồn gốc lâu đời trong nền văn hóa các dân tộc ở Việt Nam. Tục ăn trầu nhuộm răng là nét văn hóa cổ truyền của cƣ dân nông nghiệp. Sử liệu cổ nhất cho đến ngày nay công bố là chiếc bình vôi và cối giã trầu đƣợc tìm thấy qua các lần khai quật mộ cổ ở Thanh Hóa, có niên đại khoảng những năm 960 - 1172. Niên kỷ những chiếc bình vôi này ứng với một số sử liệu khác, sách “Văn hiến thông khảo” chép: “Năm Thuần Hóa thứ nhất (990), vua Tống sai sứ sang phong cho Lê Hoàn chức sắc đặc tiến.
Sử thần là Tống Cảo thuật lại rằng “Lê Hoàn cầm cương ngựa, với sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên mình ngựa, đấy là tục mời khách rất quý”. Theo tác giả Tạ Đức, với ngƣời Việt, rất có cơ sở để tin tục ăn trầu có từ thời vua Hùng. Tại di chỉ Gò Mun (Vĩnh Phúc), trung tâm của cố đô Văn Lang, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều miếng cau khô có tuổi khoảng 3000 năm. Tục ăn trầu xa xƣa nhƣ thế, nên sức lan tỏa của nó cũng rất mạnh, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong nhiều lĩnh vực của văn hóa Việt Nam [22, tr.
Đến nay, có thể khẳng định ở Việt Nam có rất nhiều dân tộc ăn trầu nhƣ Mƣờng, Thái, Chăm, Co, Xinh Mun, Mơ nông. Trầu đƣợc nhiều dân tộc, nhiều ngƣời ƣa thích vì nó có nhiều tác dụng, nhƣ: thơm ngon, hạ khí, tiêu cơm, môi đỏ, má hồng tự nhiên, làm tôn thêm sắc đẹp, đặc biệt là đối với 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phụ nữ.