Chương 1 VĂN HOÁ VÀ VÀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 1. Khái niệm văn hoá Văn hoá là một danh từ đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử và được nhiều người sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, cho dù chú ý hay không chú ý chúng ta đều đã đề cập đến vấn đề này như những cụm từ: sống có văn hoá, đời sống văn hoá, văn hoá và văn nghệ, hoặc như trình độ văn hoá… Cho đến nay đã có nhiều những quan niệm khác nhau khi định nghĩa về nó. Bởi lẽ, nói đến văn hóa là lĩnh vực đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội. TS Đỗ Huy thì văn hóa không chỉ là một từ được dùng trong sinh tồn và giao tiếp của con người mà là một khái niệm khoa học rất quan trọng mà thiếu nó không một lĩnh vực cốt yếu nào của tri thức lý luận và xã hội có thể hoạt động được.
Trong khoa học xã hội và nhân văn, khái niệm văn hóa đã là tâm điểm của những quan điểm, những ý nghĩa và những nhận xét cũng như những định nghĩa khác nhau. Cho đến nay, trên cơ sở của những công trình nghiên cứu chuyên biệt về khái niệm văn hóa thuộc các chuyên ngành như lịch sử, xã hội học, dân tộc học, triết học, văn hóa học… có thể tìm thấy những quan niệm khác nhau. Nhà nghiên cứu về văn hoá Phan Ngọc đã cho ta con số thống kê với khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hoá cho đến ngày nay. Qua con số ấy đã cho ta thấy được sự phức tạp của bản thân khái niệm này.
Sở dĩ như vậy vì đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa. Có quan niệm coi văn hóa như là những hiện tượng tinh thần; có quan niệm lại cho văn hóa chỉ là phương thức giao tiếp; có quan niệm lại khẳng định văn hóa là các thiết chế và cũng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không ít quan niệm luận chứng cho nội hàm của văn hóa chỉ phản ánh khát vọng tâm linh và nghệ thuật của con người. Những quan niệm về khái niệm văn hóa được nghiên cứu từ các khoa học khác nhau cũng đưa ra rất nhiều nhận xét, kết quả, định nghĩa khác nhau. Văn hóa khi thì được coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì được coi là chuẩn mực, lối sống… Có thể nói, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi bộ môn khoa học tìm thấy một vài phương diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết.
Tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa trước hết có căn nguyên từ tính nhiều mặt bao chứa trong nội hàm của khái niệm văn hóa, làm cho khái niệm này có khả năng đề xuất những phương hướng và những nhiệm vụ khác nhau trong việc sử dụng nó. Các ngành khoa học khác nhau như: lịch sử, xã hội học, dân tộc học, triết học… đều đã khai thác được một phần trong nội hàm của khái niệm này. Bên cạnh đó, tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa còn là vấn đề của thực tiễn lịch sử. Các vấn đề văn hóa được đặt ra trước một dân tộc, một giai cấp, một thời đại đã tác động đến con người.
Các vấn đề về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề về năng lượng và môi trường sống, các vấn đề về nghèo đói và bệnh tật là các vấn đề văn hóa mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, dù dưới góc độ nào thì các tác giả cũng đã có sự thống nhất thừa nhận văn hoá là sản phẩm của con người trong quá trình hoạt động, nó là kết quả của lao động sản xuất của con người, của xã hội loài người. Chỉ có con người trong quá trình lao động, sáng tạo của mình mới tạo ra sản phẩm văn hoá. Từ những quan niệm đó, các tác giả đã phủ nhận tính văn hoá trong hoạt động của loài vật.
Hoạt động của con người có mục đích là nhằm thoả mãn những nhu cầu. Và đồng thời, con người khác con vật ở chỗ họ đã nhận thức được những nhu cầu ấy trong quan hệ cộng đồng của mình còn con vật thì không. Mác đã từng nhận định “Đều là cái đói, nhưng cái đói được 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thoả mãn bằng thịt nấu và ăn bởi dao, dĩa lại khác cái đói dùng bằng tay, móng và răng để nuốt chửng thịt sống” [31, tr. Theo dòng lịch sử nghiên cứu về vấn đề này, thuật ngữ văn hoá ở Phương Tây theo gốc latinh là “cultus” có nghĩa là canh tác và trồng trọt.
Từ trồng trọt ở đây hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là trồng trọt của nhà nông là trồng trọt ở ngoài đồng (cultus agri), thứ hai là trồng trọt tinh thần nghĩa là sự giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn con người (cultus animi). Như vậy văn hoá gắn liền với sự sáng tạo của con người ra những sản phẩm vật chất và tinh thần. Những sản phẩm vật chất và tinh tần ấy có tác dụng giáo dục, nuôi dưỡng và đào tạo con người. Thông qua đó, ta hiểu văn hoá không chỉ là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người mà nó còn là thước đo giá trị của con người, là yếu tố quyết định bản chất Người.
Ở Phương Đông, thuật ngữ văn hoá xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỷ VI TCN, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con người với con người. Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức. Sự vật chỉ được coi là đẹp khi nó bao hàm cả cái đúng và cái tốt. “Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi.
Và “Văn hoá” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đạt tới chân - thiện - mỹ. Cùng với sự phát triển của nhận thức con người, những khái niệm về văn hoá ngày một tăng thêm, bổ sung thêm những cái nhìn mới về văn hoá với những góc độ, những khía cạnh khác nhau. Có cách hiểu văn hoá theo khía cạnh giáo dục của nó như là một sự “gieo trồng tư tưởng”; cũng có cách hiểu khác xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”, đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời Phục Hưng và Cận Đại. Trong giai đoạn này, người ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường phái triết học duy tâm Đức của nền triết học Cổ điển Đức đã có những đóng góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá và sự phát triển về mặt lý luận văn hoá, tiêu biểu là I. Kant từng coi: văn hoá, đó là giá trị của con người, hoặc đó là: sự phát triển những lực lượng tự nhiên của con người, và là: khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình. Quan niệm của I.Kant xuất phát từ chỗ coi con người là tồn tại tối cao, quan niệm này dẫn ông tới chỗ tuyệt đối hoá vai trò của con người trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hoá. Quan niệm này dẫn người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với tự nhiên, tự coi mình là kẻ có quyền “bóc lột” tự nhiên, với quan niệm ấy và hành động như thế tất yếu sẽ bị “trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người.
Những tác động có hại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biến đổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức.Kant, nhà triết học G.Ph Hegel xem xét khái niệm văn hoá trong khi đưa ra một loạt mối quan hệ nhân cách- văn hoá, tìm hiểu về sự kế thừa trong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình xã hội- văn hoá. Ông đã nhận thấy môi trường sinh sống trực tiếp của con người là xã hội và trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá. Tuy nhiên, những lý giải của Hegel còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện. Xuất phát điểm từ thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã dẫn ông đến quan điểm đồng nhất văn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức xã hội.
Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sử phát triển của văn hoá. Ông coi sự phát triển của văn hoá là sự biến đổi bản thân ý thức chủ quan về thế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới chỉ thuộc về cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” chứ không liên quan gì đến hiện thực. Ngoài những quan niệm của chủ nghĩa duy tâm về văn hoá, chủ nghĩa duy vật trước Mác hầu như không có sự đóng góp gì lớn trong việc xây dựng khái niệm văn hoá. Họ xuất phát từ con người chung chung, trừu tượng và đưa ra những khái niệm văn hoá cũng chỉ chung chung.
Vào cuối thế kỷ XIX, người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hoá như một đối tượng nghiên cứu khoa học là nhà nhân loại học nước Anh- E.B Taylor, trong tác phẩm “Văn hoá nguyên thuỷ”, xuất bản ở Luân Đôn vào năm 1871 ông đã viết: Văn hoá là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như thói quen mà con người đạt được trong xã hội. Mặc dù ở định nghĩa trên đã coi văn hoá như một tổng thể thành tựu cơ bản của con người. Nhưng cũng ở định nghĩa này đã có sự đồng nhất giữa văn hoá với văn minh khiến người ta dễ nhầm lẫn là tất cả những gì được biểu thị trong đời sống cũng là văn hoá. Ở Việt Nam, thuật ngữ “văn hoá” đã xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XX, tác giả Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm: người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt.
Thực ra không phải như vậy.