Chương 1. Cơ Sở Lý Luận Và Hướng Tiếp Cận Lý Thuyết 1.1 Khái quát về giá trị truyền thống của dân tộc.1 Gía trị truyền thống của dân tộc Việt Nam – sự hình thành và phát triển. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình; không dân tộc nào mà không có. Truyền thống dân tộc là tập hợp những kiến thức, tư tưởng, tình cảm thói quen trong cuộc sống, trong tư duy và trong cách ứng xử của con người, được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử dân tộc, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Truyền thống có thể có những cái tốt và những cái xấu, những cái tích cực và không tích cực. Tuy nhiên, khi nói đến những giá trị truyền thống thì ta chỉ bàn đến những cái tốt, cái tích cực đối với cuộc sống của con người. Gía trị truyền thống được hình thành từ sự chắt lọc, kết tinh những tố chất có được trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc. Cho đến nay những yếu tố tổng hợp hình thành nên giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam thường được nhắc tới là: Thứ nhất là hoàn cảnh địa lý tự nhiên thông qua các quan hệ xã hội nhào nặn ra một số đức tính tương ứng của con người để có thể sống trên vùng đất này là một vùng đất, tuy phì nhiêu đặc biệt nhưng cũng lắm thiên tai nghiệt ngã.
Thứ nhì là vị trí ngã tư đường giao lưu văn hóa và kinh tế bắc nam, đông tây, tức là một vị trí chiến lược rất quan trọng mà bọn xâm lược hết sức thèm thuồng nhằm làm một bàn đạp bành trướng. Bản thân xứ ta giàu có tự nhiên và nhân dân ta khéo léo, siêng năng, bọn xâm lược nào cũng muốn giành làm chủ miếng mồi béo bở. Cho nên không lạ gì mà thấy rằng từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, lịch sử nước ta giống như một chuỗi dài những cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang và chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta. Tổ tiên chúng ta, ông cha ta và chúng ta đây luôn luôn đã phải đương đầu với những kẻ địch to lớn và mạnh hơn ta gấp bội.
Việc chống địch họa như thế đã tạo cho nhân dân ta những đức tính cần phải có, đã tạo cho nhân dân ta những giá trị tinh thần không thể thay thế được nhằm bảo vệ sự 10 sống còn của dân tộc, bảo vệ nền độc lập tự chủ của quốc gia. Nếu không có thì mất hết, chết hết. Thứ ba là trên cơ sở một nền văn minh bản địa có đặc sắc, có cá tính của mình, nhân dân Việt Nam ở trên ngã tư đường giao lưu của nhân loại, đã biết mở rộng cửa trí và cửa lòng mình để tiếp thu tinh hoa nhiều trào lưu văn hóa lớn, từ ngoài vào của phương Đông cũng như của phương Tây, làm sinh nở, phát triển hoặc lắng đọng những chất lượng tinh thần mới, bời bổ cho chất lượng tinh thần vốn có tự bao giờ. Thứ tư là suốt những thế kỷ thứ 18, thứ 19 và vào đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam lâm vào một trạng thái hết sức sôi động, xáo trộn: khởi nghĩa nông dân rất nhiều và rất lớn, chiến tranh xâm lược và chống xâm lược, hết cuộc này đến cuộc khác, các triều đình sụp đổ, vạn ức nhân dân lưu tán, nước mất nhà tan, cũ mới xung đột, đường tiến thủ mịt mờ…, khiến luân thường, đạo đức, các giá trị tinh thần cũ nhiều phần đảo lộn và nhú lên những đức tính mới của một dân tộc tuy đang ở cảnh đau thương nhưng vẫn cố sức vùng dậy để tự cứu.
Và thứ năm là trong cuộc vận động chống thực dân và chống phong kiến, chủ nghĩa Mác-Lênin sớm du nhập vào nước Viêt Nam mau thấm sâu vào ý thức tâm lý quần chúng. Ở nơi là hệ ý thức phong kiến thất bại và hệ ý thức tư sản bất lực thì chủ nghĩa Mác-Lênin thành công rực rỡ: Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ đều thắng lợi trọn vẹn. Đảng, Mặt trận, Hồ Chủ Tịch đã huy động các giá trị đạo đức, các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc một cách có ý thức, có hệ thống, có phê phán, có lựa chọn hơn bất cứ lúc nào trước đó trong toàn bộ lịch sử Việt Nam. Việc lớn ấy đã làm cho các tầng lớp nhân nhân như phát kiến lại cuộc sống nhiều nghìn năm của nòi giống mình, do đó ta tự hào một cách chính đáng, do đó sức chiến đấu nhân dân tăng lên gấp bội và do đó các giá trị cách mạng, các giá trị truyền thống quyện lại với nhau thành một lực lượng tinh thần to lớn.
Nằm trong khu vực có điều kiện nhiệt đới gió mùa ẩm và có hệ thống sông ngòi dày đặc với rất nhiều lưu vực sông như sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Mê Công.Việt Nam được thiên nhiên ban tặng những mảnh đất phù sa, màu mỡ rất thích hợp cho việc phát triển nghề trồng lúa nước và trồng dâu nuôi tằm. Điều kiện tự nhiên và khí hậu đã hình thành nên nền văn minh gắn với thực vật, lúa nước của người Việt thuở xưa. Tuy nhiên, thiên nhiên không chỉ ban tặng cho người Việt 11 mảnh đất màu mỡ, trù phú, được bồi đắp bởi rất nhiều phù sa mà nó còn gây nhiều thử thách, khó khăn cho cuộc sống của người Việt bởi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Người dân luôn phải nhiều lần gánh chịu những đợt hạn hán xảy ra triền miên.
Có khi, họ lại đương đầu với những trận đại hồng thủy vô cùng ác liệt. Điều kiện tự nhiên và lao động sản xuất đó đã hun đúc cho người Việt tính cần cù, chăm chỉ và sáng tạo trong lao động sản xuất, tinh thần giỏi chịu đựng trong khó khăn, gian khổ, luôn biết trân trọng những sản phẩm, giá trị lao động. Ca dao tục ngữ xưa đã từng có những ca từ rất hay để tôn vinh tinh thần yêu lao động, chịu thương chịu khó của người Việt Nam. “Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Hay: “Muốn no thì phải chăm làm Một hạt thóc vàng chín giọt mồ hôi” Người Việt không chỉ lao động với một tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó mà còn lao động với một tinh thần lạc quan rất cao.
Cho dù cuộc sống có vô vàn khó khăn vất vả nhưng người Việt bao giờ cũng rất yêu cuộc sống, có cái nhìn tích cực đối với cuộc sống và luôn luôn cố gắng để hướng tới những điều tốt đẹp ở phía trước. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và nền sản xuất kinh tế - sản xuất nông nghiệp lúa nước không chỉ hun đúc lên tinh thần chăm chỉ, cần cù trong lao động, học tập mà còn tạo dựng nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng người dân. Đây cũng chính một nét tiêu biểu trong hệ giá trị truyền thống của người Việt Nam. Trong xã hội truyền thống, tuy các gia đình của người Việt Nam tồn tại như một đơn vị kinh tế độc lập nhưng vì điều kiện sản xuất lúa nước nên các gia đình luôn phải trợ giúp lẫn nhau để làm công tác thủy nông, đảm bảo nước tưới tiêu cho đồng ruộng.
Ngay từ xa xưa, người Việt vẫn thường dạy bảo nhau rằng 12 “Thương người như thể thương thân” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đó được hình thành không chỉ do yêu cầu hợp sức trong hoạt động lao động sản xuất, phòng chống thiên tai mà đặc biệt còn được củng cố, tăng cường trong quá trình người Việt phải chống trọi với nạn địch họa. Lịch sử hàng nghìn năm phát triển đất nước cũng chính là lịch sử hàng nghìn năm con người Việt Nam phải chống trọi với các kẻ thù xâm lược từ phương Đông đến phương Tây. Bởi vậy, trong suốt hành trình lịch sử, không chỉ có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được xây dựng và trở thành nét đặc trưng cho truyền thống của người Việt Nam, mà hơn thế, chính hoàn cảnh lịch sử đó đã hình thành nên tinh thần yêu nước.
Tinh thần yêu nước của người Việt được ví như sợi chỉ đỏ xuyên suốt các thế hệ. Lưu truyền từ đời này sang đời khác. Lòng yêu nước cũng trở thành giá trị truyền thống của người Việt Nam. Quả thực, trên thế giới hiếm có một dân tộc nào trong quá trình phát triển của mình lại phải chống chọi với nhiều kẻ thù xâm lược như dân tộc Việt Nam.
Trong hơn nữa quảng đường lịch sử của mình người Việt phải triền miên sống trong cảnh chiến tranh. Ngay từ những buổi đầu công nguyên, hai bà Trưng đã phải phất cờ khởi nghĩa chống xâm lược Triệu Đà để trả nợ nước, thù nhà. Tiếp đó, các triều đại phong kiến Ngô – Đinh – tiền Lê cho tới Lý – Trần – hậu Lê cũng đều phải liên tiếp chiến đấu chống lại kẻ thù phương Bắc, lập nên những trang sử thiêng cho dân tộc. Sang thế kỷ XIX – XX, dân tộc Việt Nam lại phải chống chọi những kẻ thù lớn mạnh, đó là những kẻ thù từ phương Tây, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Thêm một lần nữa, lòng yêu nước cùng với tinh thần đoàn kết đã góp phần đáng kể giúp chúng ta lập lên trận Điện Biên Phủ trấn động địa cầu và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh tan quân xâm lược, đưa đất nước đi vào thời kỳ độc lập, tự do, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cũng chính trong điều kiện luôn phải đối mặt với nạn thiên tai địch họa, tinh thần dũng cảm cũng sớm được hình thành và phát triển. Nó trở thành một đức tính đáng quý của người Việt và là một giá trị tinh thần quý báu của dân tộc ta. Chính nhờ lòng dũng cảm, người Việt Nam đã quật cường chiến đấu và chiến thắng trước các thế lực thù địch bạo tàn.
13 Bên cạnh các yếu tố về điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử, vị trí địa lý cũng có vai trò không nhỏ đối với sự hình thành các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam.