phần mở đầu, kết luận từng chương cũng như kết luận chung của luận văn, danh mục từ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 02 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1. Xác định thời điểm chết của cá nhân bị tuyên bố chết trong trường hợp biệt tích. Xác định thời điểm chết của cá nhân bị tuyên bố chết trong trường hợp khác. 7 CHƢƠNG 1 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHẾT CỦA CÁ NHÂN BỊ TUYÊN BỐ CHẾT TRONG TRƢỜNG HỢP BIỆT TÍCH Tuyên bố một người là đã chết là nội dung đã được luật hóa, và xuất hiện xuyên suốt từ BLDS 1995 (Điều 91), đến BLDS 2005 (Điều 81), và tại thời điểm này là BLDS 2015 (Điều 71).
Theo đó, khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu tuyên bố cá nhân chết gửi đến Tòa án, Tòa án sẽ xem xét yêu cầu này theo trình tự, thủ tục tố tụng được quy định tại BLTTDS, khi yêu cầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định thì Tòa án sẽ tuyên bố người bị yêu cầu tuyên bố chết là đã chết theo quy định của BLDS. Cùng với việc tuyên bố chết, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó dựa trên các căn cứ luật định. Các căn cứ này là khác nhau tương ứng với từng trường hợp xác định điều kiện bị tuyên bố chết. Đối với trường hợp Tòa án tuyên bố cá nhân chết trong trường hợp biệt tích, theo quy định của BLDS 2015, có 02 sự kiện pháp lý làm cơ sở để xác định trường hợp biệt tích là biệt tích trong chiến tranh và biệt tích 05 năm liền trở lên.
Một sự kiện lấy dấu mốc lịch sử, còn một sự kiện lấy dấu mốc thời gian làm cơ sở để Tòa án làm căn cứ ra quyết định có hay không có việc một người là đã chết. Biệt tích trong chiến tranh và biệt tích 05 năm liền trở lên đều có điểm chung là sự kiện biệt tích, tức việc không xác định được tung tích của một người nào đó. Tuy nhiên, khi Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự dựa trên sự kiện biệt tích nói chung như trên, kèm theo hệ quả tuyên bố chết thì Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết, và việc xác định ngày chết này là khác nhau giữa các Tòa án. Xác định thời điểm chết trong trƣờng hợp biệt tích trong chiến tranh Mặc dù, lịch sử đã qua đi, chiến tranh đã lùi xa, nhưng có thể những hệ lụy của nó vẫn còn lại cho đến ngày hôm nay, trong đó có những người vì tình cảnh loạn lạc của bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ mà người thân đã không còn biết được tung tích của họ.
Từ đó, có những trường hợp mà các chủ thể được pháp luật cho phép được quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người bị biệt tích trong chiến tranh là đã chết khi không có tin tức xác thực là họ còn sống trong một khoảng thời gian theo quy định của luật2. 2 Hoàng Thế Liên và các tác giả khác (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (tập I), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 8 Điểm b khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 quy định về trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết do biệt tích trong chiến tranh như sau: “Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Theo đó, khi Tòa án tuyên bố cá nhân nào đó là đã chết, kèm theo tuyên bố chết thì Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết.
Trường hợp này, tác giả Phạm Văn Tuyết cho rằng: “Đối với người bị tuyên bố là đã chết vì mất tích trong chiến tranh thì ngày chết của họ là ngày tròn năm năm kể từ khi cuộc chiến tranh đó kết thúc”3. Thực tiễn giải quyết của Tòa án về trường hợp này cho thấy, các Tòa chưa có sự thống nhất trong việc xác định ngày nào là ngày chết của người bị tuyên bố chết. Tác giả sẽ làm rõ hơn vấn đề này thông qua việc phân tích các ví dụ cụ thể là các quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố chết của Tòa án. Ví dụ số 1: Quyết định số: 19/2019/QĐDS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng v/v “Tuyên bố chết”.
Nội dung việc dân sự: Ông Trần Kim G là người yêu cầu tuyên bố ông Trần Quang M chết khai rằng, vào cuối tháng 4 năm 1975, ông M dẫn vợ con chạy giặc vào miền Nam, trong lúc loạn lạc, ông M đã bỏ vợ con đi đâu không rõ và biệt tích kể từ đó. Giải quyết của Tòa án: Tòa án đã tuyên bố ông M chết và xác định ngày chết của ông M là ngày 04 tháng 11 năm 2019. Tuy nhiên, Tòa án không nêu cụ thể là áp dụng điểm nào của khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 để tuyên bố ông M chết. Nhưng bên cạnh đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 để tuyên bố ông M chết, và Tòa án không có ý kiến về quan điểm này của Kiểm sát viên nên có cơ sở để khẳng định Tòa án theo hướng áp dụng điểm b khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 để tuyên bố ông M chết.
Quan điểm của tác giả về nội dung quyết định nêu trên: Tòa án ban hành quyết định tuyên bố ông M chết vào ngày 04 tháng 11 năm 2019 và xác định ngày chết là ngày 04 tháng 11 năm 2019. Như vậy, ngày chết là ngày Tòa án ban hành quyết định tuyên bố một người là đã chết. Tuy nhiên, tại nội dung quyết định, Tòa án không đưa ra lập luận nào làm cơ sở để khẳng định lý do vì sao lại xác định ngày chết là ngày 04 tháng 11 năm 2019. 3 Phạm Văn Tuyết (2000), “Tuyên bố chết đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về”, Tạp chí Luật học, (2), tr.
9 Ví dụ số 2: Quyết định số: 78/2020/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định v/v “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”. Nội dung việc dân sự: Ông Nguyễn T là người yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn A chết khai, năm 1972 do chiến tranh ác liệt nên ông A đã bỏ nhà đi và không có tin tức gì kể từ đó. Giải quyết của Tòa án: Tại phần quyết định, Tòa án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 để tuyên bố ông A chết và xác định ngày chết của ông A là ngày 02 tháng 5 năm 1980. Quan điểm của tác giả về nội dung quyết định của Tòa án: Tại quyết định, Tòa án đã lập luận về việc xác định ngày chết của ông A như sau: “Về xác định ngày chết của ông Nguyễn A: Thời điểm chiến tranh kết thúc được xác định là ngày 30/4/1975.
Ngày kết thúc thời hạn 05 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc là ngày 01/5/1980. Do đó, ngày chết của ông Nguyễn A là ngày 02/5/1980”. Như vậy, trường hợp này, Tòa án đã xác định ngày chết là ngày tiếp theo liền kề ngày kết thúc thời hạn 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Tòa án đã có nhận định liên quan đến lý do vì sao lại xác định ngày chết là ngày ngày 02 tháng 5 năm 1980 là dựa trên quy định của khoản 2 Điều 71 BLDS 2015, theo đó: “căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết”.
Do đó, việc xác định ngày chết của Tòa án là có cơ sở theo quy định của luật và cách tính thời hạn để xác định ngày chết cũng phù hợp theo quy định tại Điều 147 và Điều 148 BLDS 2015. Từ những vụ việc nhƣ đã phân tích ở trên, tác giả nhận thấy có những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án, cụ thể: Tại ví dụ số 1 và 2, cùng là tuyên bố cá nhân chết trong trường hợp biệt tích trong chiến tranh, nhưng mỗi Tòa lại có mỗi cách đánh giá và áp dụng pháp luật khác nhau khi đưa ra quyết định của mình, và mỗi quyết định là không giống nhau. Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết là ngày Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó chết. Trong khi đó, Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn xác định ngày chết là ngày tiếp theo liền kề ngày kết thúc thời hạn 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc.
Vậy, cơ sở pháp lý nào để Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết như các trường hợp vừa nêu. 10 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê khi xác định ngày chết thì gần như không có bất kỳ sự lý giải nào cho phán quyết của mình. Vậy, một quyết định của Tòa án được đưa ra nhưng không dựa trên bất kỳ sự lập luận mang tính hợp lý nào liệu có sức thuyết phục. Và dường như, trường hợp này, Tòa án đưa ra quyết định dựa trên sự cảm tính nhiều hơn là dựa vào căn cứ luật định.
Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn khi xác định ngày chết thì có nêu nhận định là dựa trên căn cứ luật định là khoản 2 Điều 71 BLDS 2015 để xác định ngày chết, nhưng đây là quy định mang tính chất định hướng, còn khi Tòa án xác định ngày chết cụ thể thì phải lập luận rõ ràng là vì sao lại xác định ngày đó là ngày chết của người bị tuyên bố chết. Như vậy, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết là không giống nhau và đều chưa cho thấy tính hợp lý cũng như sức thuyết phục trong đường lối giải quyết của mình. Từ những hạn chế nêu trên, tác giả xin đƣa ra kiến nghị về giải pháp áp dụng pháp luật, nhƣ sau: Trong số 04 trường hợp về tuyên bố cá nhân chết theo khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 thì quy định tại điểm b của điều luật có chứa đựng nội dung về sự kiện liên quan đến dấu mốc lịch sử là ngày chiến tranh kết thúc. Như vậy, để xác định được khoảng thời gian biệt tích 05 năm là điều kiện để thỏa mãn cơ sở tuyên bố cá nhân chết, thì trước hết, Tòa án phải xác định ngày chiến tranh kết thúc là ngày nào.
Về mặt lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cũng được xem là ngày kết thúc chiến tranh4.