phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tổng quan gồm 3 chương, 6 tiết. HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C. MÁC - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Lý luận giá trị lao động cơ sở nền tảng khoa học của lý luận giá trị thặng dư 1.
Những vấn đề cơ bản về lý luận giá trị lao động của C.Mác Trên cơ sở phê phán những hạn chế trong lý luận kinh tế của giai cấp tư sản và tiếp thu những tư tưởng khoa học, hợp lý của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển và chủ nghĩa xã hội không tưởng, C.Mác là người đầu tiên sáng lập ra kinh tế chính trị học của giai cấp công nhân vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đó là thời kỳ lịch sử khi mà quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chiếm địa vị thống trị ở một số nước Tây Âu: Anh, Pháp, Tây Ban Nhan, Hà Lan. Những mâu thuẫn bên trong vốn có mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ đầy đủ, rõ ràng, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt đến mức đưa giai cấp tư sản với vai trò là giai cấp tự giác xuất hiện trên vũ đài chính trị, đòi hỏi các nhà tư tưởng của mình có những chứng minh lý luận đối với chế độ tư bản chủ nghĩa và vạch đường đi cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của giai cấp vô sản. Các Mác bắt đầu từ đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học, lấy lý luận giá trị lao động là nền tảng khoa học, lấy lý luận giá trị thặng dư làm căn cứ để thực hiện thay đổi toàn diện hệ thống lý luận hoàn thành cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị học.
Tiên chuẩn cơ bản của sự kiến lập khoa học hoàn thiện của cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác được thể hiện đầy đủ bộ "Tư bản" - Tác phẩm vĩ đại, nổi tiếng của C.Mác từ khi ra đời năm 1867 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Hơn thế nữa, theo sự thăng trầm lịch sử phát triển kinh tế - xã hội hơn 140 năm qua người ta càng thấm thía ý nghĩa khoa học, cách mạng của nó khi mà những nguyên lý, luận đề, những quy luật hiện diện như một sự tiên đoán trước, lỗi lạc. Đúng như Ăngghen đã coi "Tư bản luận" là kinh thánh của giai cấp công nhân và cho rằng từ khi có nhà tư bản và công nhân đến nay, chưa hề có một cuốn sách nào có ý nghĩa 12 quan trọng như vậy đối với giai cấp công nhân. Mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, xuyên suốt xã hội tư bản chủ nghĩa được trình bày lần đầu tiên một cách có hệ thống là lập luận khoa học xuyên suốt.
Tính nhân văn trong lý luận kinh tế chính trị của C.Mác không chỉ biểu hiện tính giai cấp, bênh vực lợi ích giai cấp công nhân lao động mà rộng lớn hơn là lấy con người làm cốt lõi, biểu hiện là sự quan tâm triệt để đối với con người, giải phóng con người, dẫn dắt loài người đến một xã hội tốt đẹp hơn. Vấn đề nền tảng cho tất cả những giá trị khoa học và nhân văn nói trên được bắt đầu từ lý luận giá trị lao động của C.Mác đã chỉ ra: những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một "đống hàng hoá khổng lồ" còn từng hàng hoá một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của của cải ấy. Công cuộc nghiên cứu của C.Mác bắt đầu từ việc phân tích hàng hoá. Về hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm của lao động mà, một là, nó có thể thoả mãn được nhu cầu nào đó của con người; hai là, nó được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng, mà để bán.
Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người. Ví dụ, cơm để ăn, áo để mặc, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu để sản xuất. Công dụng của sản phẩm do thuộc tính tự nhiên của sản phẩm quyết định.
Theo đà phát triển của khoa học - kỹ thuật, con người càng phát hiện ra thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và phương pháp lợi dụng những thuộc tính đó. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng. Nó là nội dung của của cải, không kể hình thức xã hội của cải đó như thế nào. Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.
Một sản phẩm đã là hàng hoá thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng. Nhưng không phải bất cứ sản phẩm gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hoá. Ví dụ: không khí rất cần thiết cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hoá; nước suối, quả dại cũng có giá trị sử dụng, nhưng không phải là hàng hoá. Trong 13 kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi trước hết là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác. Ví dụ: 1 mét vải trao đổi lấy 5 kg thóc. Tại sao vải và thóc là hai giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau ? Tại sao lại trao đổi theo tỷ lệ 1 mét vải = 5 kg thóc. Hai giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau được khi giữa chúng có một cơ sở chung.
Cơ sở chung này không phải là thuộc tính tự nhiên của vải, cũng không phải thuộc tính tự nhiên của thóc. Song, cái chung đó phải nằm ở cả vải và thóc. Nếu không kể đến thuộc tính tự nhiên của sản phẩm, thì vải và thóc đều là sản phẩm của lao động. Để sản xuất ra vải và thóc, người thợ thủ công và người nông dân đều phải hao phí lao động.
Hao phí lao động là cơ sở chung để so sánh vải với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau. Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, 1 mét vải đổi lấy 5 kg thóc, vì người ta cho rằng lao động hao phí sản xuất ra 1 mét vải bằng lao động hao phí để sản xuất ra 5kg thóc. Khi chủ vải và chủ thóc đồng ý trao đổi với nhau thì họ cho rằng lao động của họ để sản xuất ra 1 mét vải bằng giá trị của 5 kg thóc. Từ sự phân tích trên, chúng ta rút ra kết luận quan trọng: giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
Sản phẩm nào mà không chứa đựng lao động của con người, thì không có giá trị. Không khí chẳng hạn, mặc dù rất cần thiết, nhưng không có lao động con người kết tinh trong đó, nên không có giá trị. Vàng, kim cương có giá trị cao, vì phải tốn nhiều lao động mới sản xuất được chúng. Nhiều hàng hoá lúc đầu đắt, nhưng sau nhờ tiến bộ kỹ thuật làm giảm số lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng thì lại trở nên rẻ hơn.
Việc hàng hoá trở nên rẻ hơn phản ánh sự giảm giá trị hàng hoá, giảm bớt số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá. Như vậy cũng có nghĩa là khi giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi. Giá trị trao đổi chính là hình thức biểu hiện của giá trị. Phần trên đã nói, khi những người sản xuất đồng ý trao đổi hàng hoá với 14 nhau thì điều đó có nghĩa là họ cho rằng lao động hao phí để sản xuất hàng hoá của người này bằng của người kia.
Thực chất của hoạt động trao đổi là sự so sánh lao động giữa những người sản xuất với nhau. Vì vậy, giá trị biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Quan hệ giữa người với người không còn là quan hệ "thuần tuý", mà nó đã được thay thế bằng quan hệ giữa vật với vật. Giá trị là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với nền kinh tế hàng hoá.
Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì còn tồn tại phạm trù giá trị. Nội dung khái niệm giá trị hàng hoá như trên khác với khái niệm giá trị mà chúng ta thường gặp trong đời sống. Hàng ngày, chúng ta có thể nói: quyển sách rất có giá trị, tức là quyển sách hay; không khí rất có giá trị, tức là không khí rất cần thiết cho cuộc sống hay là có giá trị sử dụng. Còn trong kinh tế chính trị học, giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, là quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính của hàng hoá. Hàng hoá được thể hiện như là sự thống nhất chặt chẽ, nhưng lại mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này. Về tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính như trên vì lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Các Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt này của lao động.
Ông khẳng định: "Tôi là người đầu tiên đã chứng minh một cách có phê phán tính chất hai mặt ấy của lao động chứa đựng trong hàng hoá. Vì đây là điểm xuất phát mà nhận thức của kinh tế chính trị xoay quanh. Cho nên, ở đây nó cần phải được xem xét một cách tường tận hơn nữa"1. Lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng, thao tác riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng.
Ví dụ, lao động cụ thể của người trồng lúa và người thợ dệt vải là khác nhau. Người thứ nhất có mục đích là lúa, người thứ hai có mục đích là vải. Đối tượng 1 Tập 23, tr. 15 của người thứ nhất là trồng cây, đối tượng của người thứ hai là bông sợi.
Thao tác của người nông dân là cày cấy, vun trồng, còn thao tác của người thợ dệt là dệt vải. Một người sử dụng cái cày, con trâu, còn người kia sử dụng con thoi, khung cửi. Cuối cùng, người nông dân thu được lúa, người thợ thu được vải. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng cũng càng nhiều loại.