MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Một trong các đặc điểm cơ bản của cơ thể ngƣời là sinh trƣởng và phát triển diễn ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh, gồm nhiều giai đoạn. Hai quá trình đó có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau để cơ thể tăng trƣởng về tầm vóc và thể lực. Đối với trẻ em, quá trình sinh trƣởng và phát triển diễn ra không đều theo lứa tuổi, mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau về hình thái, sinh lí,.
Trẻ em là tƣơng lai của đất nƣớc, nguồn nhân lực của quốc gia. Sự phát triển về thể chất của các em liên quan chặt chẽ với sự tăng trƣởng kinh tế xã hội cũng nhƣ những tiến bộ về y học. Trong thời kì kinh tế hội nhập, Đảng ta đã không ngừng chú trọng đến việc phát triển con ngƣời và đặc biệt quan tâm đến trẻ em, cụ thể là phát triển con ngƣời một cách toàn diện về thể lực và trí tuệ, trong đó tiêu chí hàng đầu là nâng cao thể lực. Qua những nghiên cứu về sự tăng trƣởng và phát triển của trẻ em trên thế giới và Việt Nam có thể thấy sự tăng trƣởng, phát triển của trẻ em thƣờng xuyên biến đổi, có mối liên quan chặt chẽ với điều kiện môi trƣờng, điều kiện sống, tình hình kinh tế xã hội, v.
và cần đƣợc điều tra thƣờng xuyên sau mỗi 10 năm. Ở nƣớc ta đã có một số công trình nghiên cứu, đánh giá sự tăng trƣởng, phát triển ở trẻ em. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ lẻ ở mức độ địa phƣơng. Mặt khác, các số liệu đã có không phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội phát triển hiện nay và chƣa đƣợc cập nhật thƣờng xuyên.
Vì vậy việc nghiên cứu ở học sinh THCS sẽ góp phần bổ sung các số liệu cần thiết về phát triển thể chất trẻ em nƣớc ta nói chung. Đó cũng là lí do mà chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số giá trị sinh học của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội". Mục đích nghiên cứu - Xác định thực trạng sự phát triển thể chất của học sinh trƣờng THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thông qua các đặc điểm về hình thái. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định thực trạng tuổi dậy thì chính thức và sự phát triển các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của học sinh trƣờng THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Đánh giá các giá trị sinh học đặc trƣng cho lứa tuổi học sinh từ 12 đến 15 tuổi, nhằm xây dựng các kế hoạch giáo dục phù hợp với giai đoạn này tại các trƣờng THCS ở Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu hình thái của học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi thuộc trƣờng THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với các chỉ số: Chiều cao đứng, cân nặng, VNTB, vòng cánh tay phải co, vòng bụng, vòng đùi phải, chỉ số Pignet, chỉ số BMI. - Nghiên cứu một số dấu hiệu mô tả về dậy thì của học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi trƣờng THCS Dịch Vọng bao gồm: + Dấu hiệu dậy thì chính thức: thời điểm có kinh nguyệt lần đầu ở nữ và thời điểm xuất tinh lần đầu ở nam. + Dấu hiệu sinh dục phụ thứ cấp: lông ở hố nách, lông trên mu ở nam giới; lông trên mu, lông ở hố nách, tuyến vú ở nữ giới.
Nhƣ̃ng đóng góp mới của đề tài Đề tài góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu về sinh học hình thể và dậy thì của học sinh trƣờng THCS trong giai đoạn hiện nay. Từ đó giúp việc áp dụng phƣơng pháp dạy học phù hợp nhất đối với từng đối tƣợng nghiên cứu, nhằm mang lại hiệu quả giáo dục tối ƣu. Đề tài nghiên cứu có vai trò đánh giá thực trạng chất lƣợng con ngƣời của học sinh trƣờng THCS Dịch Vọng thông qua các giá trị hình thái và đặc điểm sinh dục học sinh từ 12 đến 15 tuổi. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1. Cơ sở lý luận về hình thái – thể lực - Chiều cao đứng: Chiều cao đứng là một trong những kích thƣớc đƣợc đề cập và đƣợc đo đạc trong hầu hết các công trình điều tra cơ bản về hình thái, nhân chủng, sinh lý và bệnh lý. Chiều cao đứng nói lên tầm vóc của một ngƣời, do đó các nhà y học dựa vào chiều cao đứng để đánh giá sức lớn của trẻ em; so sánh chiều cao đứng với các kích thƣớc khác trong cơ thể, phối hợp với các kích thƣớc khác để xây dựng các chỉ số thể lực.
Chiều cao đứng cũng đƣợc các nhà phân loại học sử dụng khi nghiên cứu chủng tộc. Nói chung, cũng nhƣ ở các nƣớc khác trên thế giới, ở Việt Nam nam giới cao hơn nữ giới khoảng từ 8 đến 11 cm [12]. Có rất nhiều ý kiến giải thích sự gia tăng về chiều cao đứng ở thế hệ sau tốt hơn thế hệ trƣớc. Tuy nhiên, về nguyên nhân ảnh hƣởng tới chiều cao đứng có 2 yếu tố chính: + Yếu tố di truyền và yếu tố lai giống đứng hàng đầu trong việc ảnh hƣởng tới chiều cao.
Nó tác động nhanh và tức thời ở ngay thế hệ con cháu. + Yếu tố ngoại cảnh nói chung, trong đó bao gồm cả điều kiện sinh hoạt tinh thần và vật chất, khí hậu và ánh nắng, sự thích nghi với môi trƣờng, v. ảnh hƣởng ở mức độ lớn tới tốc độ phát triển cũng nhƣ chiều cao đứng cuối cùng ở ngƣời lớn, tuy nhiên yếu tố ngoại cảnh tác động từ từ, chậm chạp và cần phải tác động liên tục. - Cân nặng: Cũng nhƣ chiều cao đứng, cân nặng là số đo thƣờng đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu cơ bản về hình thái ngƣời.
Mặc dù vậy, độ chính xác của chỉ số này không cao lắm do nó dễ thay đổi tuỳ vào thời điểm nghiên cứu (buổi sáng cân nhẹ hơn buổi chiều, sau khi lao động nặng hay tập thể thao thì cân nặng giảm,. Tuy nhiên, cân nặng của một ngƣời nói lên mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ các chất và tiêu hao năng lƣợng. Cân nặng của một ngƣời bao gồm 2 phần: 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Phần cố định, chiếm 1/3 tổng cân nặng gồm xƣơng, da, tạng và thần kinh. + Phần thay đổi, chiếm 2/3 tổng cân nặng, trong đó bao gồm 3/4 là khối lƣợng của cơ và 1/4 là mỡ và nƣớc.
Điều này cho thấy tăng cân là tăng phần thay đổi, trong đó khối lƣợng của cơ chiếm tới 3/4, vì vậy tăng cân phần nào nói lên mức độ tăng thể lực cơ thể. - Vòng ngực trung bình: Vòng ngực trung bình (VNTB) là trung bình cộng của vòng ngực hít vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức. Đây là một trong những kích thƣớc quan trọng do nó phối hợp với chiều cao đứng, cân nặng để đánh giá thể lực của con ngƣời. Tuy nhiên, đây cũng là kích thƣớc dễ thay đổi, ngƣời ta nhận thấy đo nhiều lần trên cùng một ngƣời, các kết quả về vòng ngực có thể chênh lệch nhau từ 2 đến 3 cm.
VNTB lớn thì thể lực tốt, do nó liên quan đến khả năng hô hấp của con ngƣời [12]. - Vòng đùi và vòng cánh tay phải co: Ở đây, chúng tôi chỉ nói về các loại vòng cơ có liên quan nhiều đến cân nặng. Các vòng cơ ở chi biểu hiện sự phát triển của ba yếu tố: xƣơng, cơ và tổ chức mỡ dƣới da. Nhƣ vậy, đo các vòng cơ ở chi cho phép ta đánh giá tình trạng phát triển cơ thể nói chung và nhất là tình trạng tập luyện và dinh dƣỡng của cơ thể.
Các vòng này cũng có ý nghĩa nhƣ cân nặng và do đó có mối tƣơng quan chặt chẽ với cân nặng. Các vòng cơ ở chi không những có thể làm thay đổi cân nặng và hơn nữa, còn có những ƣu điểm sau trong việc đánh giá thể lực một ngƣời [12]: + Các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ rõ hơn cân nặng. Một kết quả nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng các vòng chi trên 10 thanh niên tập cử tạ trong 4 tháng liền, trong đó các vòng cánh tay tăng rất mạnh, khoảng từ 2 đến 3,5 cm [41]. + Cân nặng biểu hiện sự tăng mỡ nhiều hơn so với các vòng chi.
Một điều hiển nhiên là chúng ta có thể tăng cân rất nhanh do an dƣỡng (ăn uống, nghỉ ngơi) mà không phải do tập luyện và lao động. Sự tăng cân biểu hiện tình trạng dinh dƣỡng tốt của cơ thể. Nhƣ vậy, sự tăng cân rõ ràng là biểu hiện sự béo nhiều hơn, trong khi đó, sự tăng các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ nhiều hơn. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Vòng bụng: Muốn đánh giá độ béo của cơ thể và do đó đánh giá đƣợc mức độ dinh dƣỡng và khả năng hấp thụ của cơ thể, ngƣời ta thƣờng đo vòng bụng.
Tuy nhiên, việc đo vòng bụng nếu không đúng kỹ thuật thƣờng cho số liệu chính xác không cao, do không có một thành xƣơng vững chắc nhƣ thành ngực. Có thể đánh giá mức độ béo của cơ thể theo chỉ số: [Vòng bụng/ Vòng ngực] x 100. Chỉ số này càng lớn thì ngƣời càng béo, trừ trƣờng hợp bụng to vì bệnh lý. Cũng có thể tính hiệu số giữa vòng ngực và vòng bụng.
- Chỉ số Pignet: Chỉ số này đã sử dụng ba kích thƣớc trong công thức tính: Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [Cân nặng (kg) + VNTB (cm)] Theo công thức này, ta thấy chỉ số càng bé thì thể lực càng tốt. Tuy nhiên, chỉ số này bị phê phán vì có lợi cho ngƣời béo (nặng cân) và thiệt cho ngƣời cao. Chỉ số này thay đổi tuỳ theo tuổi, vì vậy khi lập thang phân loại, phải lập riêng cho các lứa tuổi thì việc đánh giá mới thích hợp, ví dụ có thang phân loại chỉ số Pignet phù hợp với trẻ em Việt Nam (xem bảng 2. - Chỉ số BMI chỉ sử dụng 2 kích thƣớc hình thái thông thƣờng: BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2.
Chỉ số BMI có ƣu điểm dễ thực hiện, nhanh chóng đƣa ra kết luận về thể trạng của học sinh. Dựa vào chỉ số này có thể phân loại ngƣời béo và ngƣời gầy theo tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì áp dụng cho ngƣời châu Á. Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì 1.