chương 1 Vùng đất và con người Dầu Tiếng đã trải qua hằng năm theo dòng lịch sử hình thành. Vùng đất ban đầu chỉ là nơi rừng rậm đầy rẫy sự nguy hiểm. Nơi rừng rậm nhưng đã được chính đôi bàn tay của con người đã khai hoang đất đai để có thể gieo trồng những hạt mầm đầu tiên để trồng trọt, xây dựng. Những con người cùng chung tay đoàn kết khai phá rừng để hình thành nên mảnh đất trù phú đầy tiềm năng phát triển như bậy giờ là điều đáng trân quý.
Vị trí địa lí thuận lợi nằm giữa hai con sông Thị Tín và sông Sài Gòn. Được phù sa trau dồi hàng năm làm cho mảnh đất này ngày càng phát triển vượt trội. Vị trí địa lí thuận tiện làm địa điểm quân sự nên ngày càng thu hút những nhiều quốc gia khác qua xâm lược. Trong khoảng thời gian năm 1917 - 1954 Đông Nam Bộ là nơi thực dân Pháp thực hiện những chính sách cai trị, bóc lột sức lao động, đem của cải về chính quốc của mình.
Người Dầu Tiếng chịu thương chịu khó, tảo tần. Họ đã dùng chính sức lực của bản thân mình để cùng xây dựng bồi đắp nên mảnh đất màu mỡ này. Thuở mới bắt đầu khó khăn là điều không tránh khỏi. Nhưng họ đã vượt qua được đấu tranh với thiên nhiên vươn lên mọi khó khăn để tiến lên phía trước.
Cho đến năm 1917 sau chiến tranh thế giới thứ nhất cao su đã trở thành một sản phẩm đắt đỏ đối với thị trường thế giới. Các nước thắng trận hay thua trận trong chiến tranh vẫn bị ảnh hưởng lớn đối với nên kinh tế của mình. Cho nên thực dân Pháp đã bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam biến miền nam Việt Nam trở thành thuộc địa của mình. Pháp xây dựng đồn điền cao su để phát triển nền kinh tế của mình.
Tại Dầu Tiếng năm 1917 Pháp đã cho xây dựng đồn điền cao su Michelin. Và từ đó người dân Dầu Tiếng đã bắt đầu trở thành người công nhân của đồn điền và chịu nhiều sự áp bức của người chủ đồn điền. Cuộc sống cơ cực làm người công tra bắt đầu từ đây. 15 Chương 2 HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒN ĐIỀN CAO SU THỜI PHÁP THUỘC (1917 - 1954) 2.
ĐỒN ĐIỀN CAO SU DẦU TIẾNG ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁ KHỎI XIỀNG XÍCH (1917 -1945) 2. Dấn thân vào kiếp công tra Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) là cuộc chiến tranh phân chia quyền lực, thuộc địa, thị trường thế giới giữa các cường quốc đế quốc. Cuộc chiến tranh đế quốc này đem lại hậu quả nặng nề cho nhân loại, với khoảng 10 triệu người chết, 20 triệu người bị tàn phế, các khoảng chi trực tiếp cho quân sự của các nước tham chiến lên tới 208 tỉ đôla. Nền kinh tế, tài chính của nhiều nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, đình đốn, suy kiệt.
Đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là nhân dân lao động các nước càng thêm nghèo khổ hơn trước. Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khủng hoảng kinh tế 6 các nước tư bản chủ nghĩa và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông và phong trào đấu tranh của công nhân các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ và gắn bó mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã có ảnh hưởng sâu sắc tới cục diện và tiến trình lịch sử thế giới. Trong đó Việt Nam cũng đã chịu ảnh hưởng từ bối cảnh thế giới như vậy và dần dần Việt Nam cũng đã dần dần tiếp thu tư tưởng Mác Lênin trên thế giới.
Cách mạng tháng Mười Nga và sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản thế giới đã tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Người đã tin theo Quốc tế Cộng sản, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực để truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Như chúng ta đã biết sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì cơn sốt cao su trên thị trường thế giới gay gắt hơn bao giờ hết. Và Pháp cũng là nước bị ảnh hưởng sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
Pháp đã chịu tổn thất nặng nề, đặc 16 biệt là sự phá hủy trong ngành kinh tế. Các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận tải giảm sút nghiêm trọng. Các khoản đầu tư vào nước Nga bị mất trắng, đồng Phrăng mất giá…Số nợ Pháp phải gánh chịu tính đến năm 1920 là 300 tỉ Phơrăng. Cho nên Pháp đã tiến hành các chính sách khai thác thuộc địa của mình.
Hàng loạt công ty tư bản Pháp, lần lượt bám theo sau đội quân viễn chinh, kéo sang Đông Dương, Đờlaphông, đại diện của Công ty Michelin, cũng sắm sửa hành trang, xách cặp xuống tàu rời nước Pháp đến Sài Gòn. Sau khi đặt chân đến Việt Nam thì Đờlaphông đã chọn địa điểm là Dầu Tiếng để cho thành lập công ty tên là Công ty Michelin vào năm 1917. Tài nguyên lâm thổ sản ở vùng đất xám Dầu Tiếng được thiên nhiên kiến tạo trên một địa thế rất thuận lợi nằm bên con sông Sài Gòn. Như chúng ta đã biết vị trí của huyện Dầu Tiếng đất rất thuận lợi cho việc trồng cây cao su.
Đờlaphông áp dụng ngay chiến lược “lấy ngắn nuôi dài”. Ban đầu Đờlaphông sẽ thuê công nhân tại nơi đây cho họ vừa khai thác rừng lấy gỗ quý hiếm vừa khai hoang đất đai để phục vụ cho công việc trồng trọt sau này. Nhưng trên thực tế ông chỉ tốn tiền trả công cho một công việc cho họ mà thôi. Không những họ chặt phá rừng khai khoang đất đai mà họ còn phải dọn sạch sẽ nơi đó rồi bắt đầu gieo những hạt giống đầu tiên lên mảnh đất rừng mà họ đã dọn sạch.
Ở Dầu Tiếng là mảnh đất có rừng bạt ngàn có nhiều loại cây quí hiếm như: Gỗ quí căm xe, giáng hương, cây dầu. Những cây gỗ quí hiếm đó được hạ xuống chặt thành gỗ khúc rồi bán cho Công ty hỏa xa. Tiền bán gỗ thì nhiều ngày càng nhiều nhưng việc chi để thuê sức lao động của công nhân thì ít ỏi, chất lượng cuộc sống của công nhân làm thuê cũng không được nâng cao. Cứ như thế, bắt đầu từ năm 1917, Đờlaphông lập đồn điền cao su Dầu Tiếng.
Trong quá trình khai thác cần rất nhiều nhân công lao động nên đã chiêu mộ các người lao động từ nhiều vùng khác nhau như: người dân các xã, ấp tổng Bình Thạnh Thượng, Gò Dầu, Trảng Bàng, Củ Chi. họ được thuê đến đây để khai phá rừng khẩn khoang đất đai sau đó lập nên đồn điền. Rồi dần theo thời gian họ đã trở thành người công nhân của đồn điền cao su Dầu Tiếng. Tình cảnh lao động của người dân ở đây rất cực khổ.
Buổi sáng hằng ngày họ phải thức thật sớm để mãi miết dọn nương rẫy, cho đến chiều muộn họ mới có thể về nhà nghỉ nghơi. Họ phải đào những cái hố thật to và thật 17 thẳng hàng, khoảng cách của những cái hố đó cũng phải thật đều với nhau cách đều sáu mét. Công việc làm cực nhọc còn phải chịu sự giám sát của những ông Tây. Thi thoảng họ lại ra xem chừng rồi quan sát những người cu li đó làm việc như thế nào.
Khoảng cách ngôn ngữ đó cũng là một cách biệt rất lớn. Đi theo sau ông Tây là một đám tùy tùng người Việt. Họ cầm roi mây, ông chủ đưa cái gậy lên chỉ trỏ vào người nào trong những cư li đào hố và nói xì xồ gì đó, thế là người cầm roi nhảy bổ vào quất lia lịa. Cứ mỗi lần ông chủ ra thăm những người cu li đó họ lại phải chịu đựng những sự đánh đập tàn bạo từ họ.
Không những quất bằng những cây roi mây mà họ còn bắt nằm sấp, có chân lên lưng, đánh vào gan bàn chân cho đến tím bầm ứ máu. Đánh chán, bọn họ bắt cu li ấy dậy chạy cho xem, rồi cười hô hố. Họ vui vẻ trên sự đau đớn của người lao động cực khổ nơi đây. Chính những bàn tay lao động đó đã tạo ra của cải vật chất và đất đai cho họ vậy mà vẫn không được đối xử một cách đàng quàng.
Cây cao su phải trồng trong điều kiện có nước cung cấp liên tục. Mùa mưa năm 1924, những người cu li đó phải trồng từng cây bầu non xuống những cái hố đã được đào sẵn trước đó, để cho cây được vững chắc chống lại điều kiện của thời tiết thì họ phải chống cây ba phía cho gió khỏi làm cây lung lay. Có những hố không trồng cây bầu non thì họ sẽ trồng hạt những đã được đập vỡ một đầu rồi bỏ xuống đất chờ nó sinh trưởng. Công việc đó luân phiên liên tục cho người cu li nơi đây.
Họ phải làm lụng vất vả từ ngày này qua tháng nọ. Rồi những cây cao su đó sinh trưởng và phát triển và chúng được đặt tên là lô A, lô B đến lô F, mỗi lô diện tích khoảng 100 hécta. Vùng đất Dầu Tiếng là vùng đất xám giúp cao su xanh tốt không kém gì đất đỏ banzan. Sau khi đồn điền Dầu Tiếng ngày càng phát triển Đôlaphông bắt đầu đề xuất đề án và lập ra đồn điền Phú Riềng.
Chủ đầu tư đã chủ động gửi cho ông một khoảng tiền khủng lồ để dành làm vốn đầu tư thông qua ngân hàng Đông Dương và kèm theo những chỉ thị mưu lược trong việc chiêu mộ nhân công, mở rộng đồn điền, cho người Việt làm xu, làm cai và cao hơn là sếp. Với sự phát triển vượt trội của đồn điền cao su, ngày càng được mở rộng. Nhân công càng ngày càng thiếu hụt. Đờlaphông tính đến việc thuê mướn nhân công từ những nơi xa đến cũng làm như những công ty khác ở miền Đông đất đỏ, bỏ tiền ra mướn những tay có miệng lưỡi, quen nghề phỉnh gạt trong giới người Việt, có quyền lợi gắn chặt với người Pháp để chiêu mộ 18 công nhân ở Bắc, Trung kỳ.
Họ ra giá cứ chiêu mộ được một mộ phu cho đồn điền thì sẽ được năm đồng bạc. Một công việc không cần lao động vất vả nhưng lại hưởng được một số tiền béo bở. Một trong số những kẻ làm nghề buôn người ấy, làm ăn với chủ Tây Michelin, ra tận xứ Trung, Bắc kỳ, lập ra những nhà mộ.