CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ GIÁ TRỊ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 1. Những vấn đề lý luận về giá trị bồi thường thiệt hại 1. Khái niệm, chức năng và nguyên tắc bồi thường thiệt hại 1.
Khái niệm bồi thường thiệt hại Trong thực tiễn hình thành và phát triển xã hội, mỗi người sống trong đó phải tôn trọng những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm nhất trong lịch sử pháp luật dân sự.
Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau, việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức, hình thức và phương thức bồi thường, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia. Pháp luật nhiều nước trên thế giới cũng quy định bồi thường thiệt hại là một biện pháp mà bên bị vi phạm áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình, bắt buộc bên vi phạm phải bồi hoàn những tổn thất mà mình bị xâm phạm. Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Nga quy định bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm là hai hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Nhưng đối với pháp luật các nước thông luật như Anh, Mỹ thì bồi thường thiệt hại là chế tài được sử dụng chủ yếu, trong trường hợp chưa đến mức hủy bỏ hợp đồng.
Họ cho rằng áp dụng chế tài này sẽ hợp lý, khả thi và tiện lợi cho các bên trong quan hệ hợp đồng1. Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại là chế tài trong thương mại được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh thương mại. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng2. Trong trường hợp bên có quyền bị vi phạm đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác thì họ vẫn không đương nhiên mất quyền đòi bồi thường thiệt hại.
Vì thế, có thể coi bồi thường thiệt hại là một giải pháp vạn năng cho 1 Nguyễn Thị Thanh Nữ (2013), Chế tài bồi thường thiệt hại trong Luật Thương mại 2005, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, sđd, tr. 2 Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Giáo trình Luật hợp đồng và thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8 mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng3.
Để bảo vệ bên bị vi phạm, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất đó, ngay cả khi không có điều khoản bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ cơ sở giải quyết bồi thường trong hợp đồng và bồi thường ngoài hợp đồng rất khác nhau, xác định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có một số khác biệt như sau: (i) Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng về cơ bản phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên theo hợp đồng.
(ii) Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi4. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, điều kiện phát sinh do các bên thoả thuận đặt ra, đó là nghĩa vụ phải thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho các bên khi tham gia vào hợp đồng. Bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tức là đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Điều 303 LTM 2005 quy định rất rõ căn cứ (điều kiện) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: “Trừ các trường hợp miễn 3 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 4 Xem Điều 604 BLDS 2005. 9 trách nhiệm quy định tại Điều 294 Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: 1. Có hành vi vi phạm hợp đồng; 2.
Có thiệt hại thực tế; 3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”. Như vậy, dưới khía cạnh pháp lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động thương mại (nghĩa là bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng thương mại).
Theo Điều 303 LTM 2005 bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đủ các yếu tố: Có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Trước hết phải có hành vi vi phạm hợp đồng, đó là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên. Hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường nếu hành vi đó gây thiệt hại thực tế và là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Ở đây, yếu tố lỗi không là căn cứ để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM.
Tuy nhiên, theo BLDS, lỗi là yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tư cách là một loại trách nhiệm dân sự. Cụ thể, khoản 1 Điều 308 BLDS 2005 quy định: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý”; Điều 364 BLDS 2015 quy định: “Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý”. Hiện nay, có các quan điểm khác nhau về việc lỗi có phải là một yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không?5 Theo quan điểm của tác giả, trong hoạt động kinh doanh thương mại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh mà không cần phải xác định lỗi; bởi lẽ, (i) LTM với tư cách là luật chuyên ngành, được ưu tiên áp dụng điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng kinh doanh thương mại trước BLDS, không đòi hỏi lỗi là yếu tố bắt buộc mà có nó mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (ii) “Đối chiếu so sánh thì chúng ta thấy yêu cầu “lỗi” không tồn tại trong một số hệ thống pháp luật. Ví dụ, trong Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại “không cần yếu tố lỗi””6; (iii) ở Việt Nam, “trong thực tiễn xét xử 5 Vấn đề yếu tố lỗi, tham khảo thêm: (i) Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa dịch vụ, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.
428-433; (ii) Đỗ Văn Đại (2013), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 86-90; (iii) Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 6 Đỗ Văn Đại (2013), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 10 những năm qua, hầu như chưa bao giờ vấn đề kiểm tra, xem xét trạng thái tâm lý của người vi phạm nghĩa vụ đối với hành vi thực hiện và hậu quả của hành vi thực hiện được đặt ra một cách nghiêm túc, cả từ phía Tòa án lẫn từ những người tham gia tố tụng.
Bên cạnh đó, ngay trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cũng đã bắt đầu xuất hiện một số văn bản pháp luật chuyên ngành trong đó từ bỏ cách tiếp cận khái niệm lỗi truyền thống của BLDS 2005”7. Như vậy, theo quy định của LTM, quan điểm của pháp luật quốc tế và thực tiễn xét xử ở Việt Nam không yêu cầu lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.