phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của đề tài bao gồm 3 phần nhƣ sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn của NHTMCP Sài Gòn. Chƣơng 3: Giải pháp gia tăng nguồn vốn huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Ngân hàng bao gồm nhiều loại hình tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thƣơng mại thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lƣợng các ngân hàng. Sự ra đời của hệ thống Ngân hàng thƣơng mại có tác động rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế hàng hóa và ngƣợc lại, kinh tế hàng hoá phát triển thì hoạt động Ngân hàng thƣơng mại cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và ngân hàng trở thành tổ chức không thể thiếu trong nền kinh tế.
Mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau về ngân hàng thƣơng mại. Theo pháp luật Mỹ, ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thƣơng mại. Theo pháp luật ngân hàng Ấn Độ, các cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ và đầu tƣ đƣợc gọi là ngân hàng…. Tại Việt Nam, khái niệm NHTM đƣợc định nghĩa trong Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1990: “Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán”.
Luật các TCTD Việt Nam số 07/1997/QHX ngày 12/12/1997 ra đời thay thế cho Pháp lệnh ngân hàng hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD năm 2004 và tiếp tục định nghĩa “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. Trong đó, “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Năm 2010, một số quy định của Luật các TCTD đã đƣợc sửa đổi, bổ sung phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
Khái niệm NHTM đƣợc giải thích rõ hơn: “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ : Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nhƣ vậy, có thể nói rằng: “Ngân hàng thƣơng mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ đƣợc huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.
Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại NHTM có các chức năng sau: chức năng trung gian thanh toán, chức năng trung gian tín dụng và chức năng tạo tiền. Chức năng trung gian thanh toán Còn đƣợc gọi là chức năng thủ quỹ cho các thực thể trong nền kinh tế. NHTM nhận gửi tiền, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền của khách hàng của mình chính là các chủ thể trong nền kinh tế. Nhờ chức năng này, các chủ thể trong nền kinh tế không những đảm bảo an LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 toàn cho đồng vốn của mình mà còn có tác dụng sinh lời cho đồng vốn tạm thời thừa, từ đó nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn.
Đối với ngân hàng, thực hiện chức năng thủ quỹ là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán, đồng thời tạo nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng. Chức năng trung gian tín dụng Các NHTM thực hiện việc chuyển giao vốn từ những thực thể có vốn nhàn rỗi đến những thực thể có nhu cầu về vốn. Với tƣ cách ngƣời đi vay, NHTM huy động tiền gửi và bán các công cụ tài chính ra thị trƣờng để tạo lập nguồn vốn. Trên cơ sở nguồn vốn này, ngân hàng cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu về vốn tiền tệ hay mua chứng khoán.
Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại. Chức năng tạo tiền Đây là chức năng quan trọng, là hệ quả tất yếu của chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán vì quá trình tạo tiền thực chất là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống NHTM. Từ một khoản tiền gửi ban đầu, hệ thống NHTM tạo lƣợng tiền lớn hơn gấp nhiều lần số tiền gửi ban đầu mặc dù mỗi ngân hàng vẫn chỉ cho vay trong phạm vi tiền gửi mà nó có. Lƣợng tiền mà các NHTM tạo ra phụ thuộc vào số tiền dự trữ an toàn mà NHTM đó giữ lại.
Qua đó, các Ngân hàng Trung ƣơng đã thiết lập một công cụ quản lý vĩ mô rất hiệu quả, đó là tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Trung ƣơng có thể căn cứ vào đó để xác định khối lƣợng tiền cơ bản cần đƣa vào lƣu thông nhằm có đƣợc mức cung tiền tệ mong muốn. NGUỒN VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Nguồn vốn của NHTM 1.
Khái niệm về nguồn vốn của NHTM Vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại. Đó là khoản hình thành nên tài sản của ngân hàng, giúp cho ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả. Vốn của ngân hàng là những giá trị tiền tệ do ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thƣơng mại tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Phân loại nguồn vốn NHTM Nguồn vốn tự có Theo luật các TCTD Việt Nam năm 2010 : “Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn đƣợc cấp của chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Việt Nam”.
Vốn tự có bao gồm: vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. - Vốn điều lệ: Vốn điều lệ là nguồn vốn đƣợc hình thành bằng sự đóng góp của các chủ sở hữu và đƣợc ghi trong điều lệ hoạt động và trong giấy phép kinh doanh của NHTM. Vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Tùy từng loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ đƣợc hình thành từ các nguồn khác nhau.
Đối với NHTM quốc doanh: vốn điều lệ là số vốn đƣợc nhà nƣớc cấp. Đối với NHTM cổ phần: đây là số vốn đƣợc các cổ đông đóng góp thông qua việc phát hành cổ phiếu. Đối với NHTM liên doanh: đây là số vốn đƣợc các bên liên doanh góp vốn. Đối với chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài: Vốn do ngân hàng mẹ ở nƣớc ngoài chuyển qua.
Đối với ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài: vốn điều lệ do tổ chức thành lập tự đáp ứng. - Các quỹ dự trữ: Hằng năm trong quá trình hoạt động của mình, các ngân hàng thành lập các quỹ nhƣ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tƣ phát triển, quỹ khen thƣởng phúc lợi và các quỹ khác. Vốn tự có thƣờng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn ngân hàng. Tuy nhiên có tính chất ổn định cao và luôn đƣợc bổ sung trong quá trình phát triển, vốn tự có thƣờng nằm dƣới dạng trang thiết bị, cơ sở vật chất, nhà cửa ….Vì thế, vốn tự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có quyết định quy mô của ngân hàng và là căn cứ để tính các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Nguồn vốn huy động “Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào. Chỉ có các NHTM mới đƣợc quyền huy động vốn dƣới nhiều hình thức khác nhau”. (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự, 2009) Ngân hàng huy động nguồn vốn này dƣới các hình thức : tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi từ ngân hàng khác… Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn huy động thƣờng không ổn định, vì phụ thuộc vào khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào.
Là nguồn vốn có chi phí sử dụng cao và có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Nguồn vốn đi vay Để đảm bảo thanh khoản khi gặp khó khăn trong thanh toán nhƣ thiếu dự trữ bắt buộc, hay thiếu tiền mặt cho nhu cầu thanh toán, ngân hàng có thể đi vay tại: Ngân hàng trung ƣơng: Vốn vay đƣợc NHTW cấp dƣới hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng với điều kiện nhất định.