Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BẮT GIỮ TÀU BIỂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẮT GIỮ TÀU BIỂN 1. Khái niệm về bắt giữ tàu biển và một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm bắt giữ tàu biển Các quốc gia có biển đều thực hiện chủ quyền hoặc các quyền chủ quyền của mình trên các vùng biển của họ bằng cách xác lập các quy định pháp luật và các tập quán hàng hải mang tính bắt buộc. Tàu biển hoạt động trên các tuyến hàng hải quốc tế thường xuyên phải đi qua hoặc ra vào cảng của nhiều nước trên thế giới và do đó tàu biển khi đi vào nội thủy hoặc lãnh hải của bất cứ quốc gia nào cũng đều phải tuân thủ pháp luật cũng như tập quán hàng hải của quốc gia đó.
Trong trường hợp tàu biển không tuân thủ các quy định này hoặc có hành vi vi phạm pháp luật hàng hải, pháp luật dân sự, hành chính, hình sự. thì tàu biển đó có thể phải chịu những chế tài như: bị giữ, tạm giữ, bắt giữ, hoặc cầm giữ hàng hải theo các quy định của pháp luật. Giữ tàu, bắt tàu, tạm giữ tàu, cầm giữ hàng hải. là các chế tài khác nhau được quy định trong pháp luật hàng hải và mang những ý nghĩa, cũng như nội dung khác nhau mặc dù chúng có chung một đối tượng đó là bản thân con tàu.
Bắt giữ tàu biển để đảm bảo giải quyết khiếu nại hàng hải là hoạt động bắt giữ tàu phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Ngoài Công ước Luật biển năm 1982 [16], hiện có một số điều ước quốc tế điều chỉnh vấn đề này như Công ước Brussels năm 1952 về bắt giữ tàu biển [15], Công ước năm 1967 về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến cầm giữ và cầm cố tàu biển, Công ước năm 1999 về bắt giữ tàu biển [2]… Trong đó, Công ước năm 1999 về bắt giữ tàu biển được coi là điều ước quốc tế có tính kế thừa và hoàn thiện hơn cả so với các Công ước trước đó. Để hài hòa với pháp luật quốc tế, Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động bắt giữ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tàu biển trong phạm vi các vùng biển của Việt Nam. Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990 và 2005 là những văn bản đầu tiên chứa đựng các quy định về bắt giữ tàu biển.
Công ước năm 1999 về bắt giữ tàu biển của Liên hợp quốc (sau đây gọi tắt là Công ước 1999) quy định: "Bắt giữ là một sự lưu giữ hoặc hạn chế dịch chuyển tàu theo quyết định của toà án để bảo đảm cho một khiếu nại hàng hải, chứ không bao hàm việc bắt giữ tàu để thi hành một bản án hay một văn bản có hiệu lực thi hành khác” [2, Điều 1, Khoản 2]. Phù hợp với quy định đó, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 (BLHH 2005) cũng ghi nhận: “Bắt giữ tàu biển là việc không cho phép tàu biển di chuyển hoặc hạn chế di chuyển tàu biển bằng quyết định của toà án để bảo đảm giải quyết các khiếu nại hàng hải” [6, Điều 40]. Như vậy, nội dung khái niệm bắt giữ tàu biển của BLHH 2005 có sự phù hợp với Công ước 1999. Theo đó, việc bắt giữ tàu biển là để đảm bảo cho các khiếu nại hàng hải chứ không nhằm vào các mục đích thi hành bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định cưỡng chế khác của cơ quan Nhà nước.
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 57/2010/NĐ-CP ngày 25/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bắt giữ tàu biển năm 2008 [8] (sau đây gọi tắt là Nghị định 57) thì việc bắt giữ tàu biển không chỉ để đảm bảo giải quyết các khiếu nại hàng hải mà còn để áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hay theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự hoặc theo yêu cầu uỷ thác tư pháp của toà án nước ngoài. Như vậy, khái niệm bắt giữ tàu biển này có nội hàm rộng hơn, mang tính bao quát hơn so với khái niệm được đưa ra trước đó trong BLHH 2005 hay Công ước 1999. Cách giải thích này phù hợp với các nội dung được đưa ra trong Pháp lệnh 2008. Do đó, về vấn đề hoàn thiện pháp luật, cần bổ sung khái niệm bắt giữ tàu biển này vào Bộ luật Hàng hải sửa đổi để đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, khi nói đến bắt giữ tàu biển, tức là nói đến việc cấm một con tàu rời khỏi một địa điểm nhất định bằng một lệnh (Quy định) của Toà án để đảm bảo cho một khiếu nại hàng hải mà không phải bảo đảm cho việc để thi hành án hay thực hành một biện pháp cưỡng chế nào khác. Khái niệm về giữ tàu, tạm giữ tàu, cầm giữ hàng hải 1. Giữ tàu (Seizure) Đây là biện pháp được áp dụng đối với tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải nước ta, kể cả việc đánh bắt trộm thủy sản và thẩm quyền giữ tàu thường là thuộc lực lượng vũ trang tuần tra trên biển. Giữ tàu cũng có thể được lực lượng hải quan áp dụng đối với tàu buôn lậu [12].
Việc giữ tàu được đặt ra khi chủ tàu hoặc chủ hàng vi phạm luật lệ, tập quán địa phương hoặc gây tổn hại đến quyền lợi của địa phương thì căn cứ theo sự khởi tố hoặc vụ kiện mà chính quyền sở tại sẽ ra lệnh bắt giữ, sai áp tàu hoặc hàng hóa tạm thời để chờ đợi xét xử theo pháp luật. Ví dụ: Tàu X va đụng và làm hỏng cầu cảng, sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ tại cảng chờ xét xử. Tuy nhiên, nếu chủ tàu có yêu cầu và sẵn sàng nộp tiền bảo chứng (bail) cho việc bồi thường thì tàu có thể được thả ra và tiếp tục kinh doanh. Tạm giữ tàu (Detention) Theo tập quán quốc tế và Điều 68 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990 thì việc tạm giữ tàu thuộc thẩm quyền của Giám đốc Cảng vụ.
Khoản 2 Điều 59 của Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại các cảng biển và các khu vực hàng hải Việt Nam quy định: Tàu thuyền bị tạm giữ nếu gây ra các tai nạn, sự cố trong cảng hoặc chưa thanh toán xong các Khoản tiền nợ, tiền phạt vi phạm hành chính đối với tàu thuyền, người ở trên tàu thuyền đó. Các tàu thuyền này sẽ được giải phóng ngay sau khi các Khoản nợ, tiền phạt vi phạm hành chính đã được thanh toán hoặc đã có sự bảo lãnh theo quy định của pháp luật [4]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời hạn tạm giữ tàu của Giám đốc Cảng vụ là không quá 72 giờ tính từ thời điểm con tàu bị giam giữ, nhằm mục đích bảo đảm việc thanh toán lệ phí hoặc các chi phí còn nợ Cảng mà con tàu đó neo đậu hoặc để bồi thường các thiệt hại gây ra cho tàu biển hoặc các tài sản liên quan đến việc bảo đảm hàng hải, kể cả mọi phương tiện Cảng biển hoặc thiệt hại cho môi trường. Cụ thể như các loại cảng phí hoặc tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tàu, ụ tàu.
Bộ luật Hàng hải năm 2005 cũng quy định thẩm quyền tạm giữ tàu của Giám đốc cảng vụ, tuy nhiên theo các Điều 68, 69 thì pháp luật Việt Nam không còn giới hạn về thời hạn tạm giữ tàu biển của Giám đốc cảng vụ nữa, việc tạm giữ sẽ chấm dứt khi các điều kiện cần để tạm giữ không còn nữa. Cầm giữ hàng hải (Maritime lien) Cầm giữ hàng hải là quyền mà pháp luật quy định cho phép các chủ nợ, người bị thiệt hại được yêu cầu bắt giữ một tài sản hàng hải nào đó (thường là hàng hóa vận chuyển trên tàu), kể cả tàu biển của người bị khiếu nại nhằm mục đích buộc bên vi phạm phải thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng mà hai bên đã kí kết [12]. Khái niệm về quyền cầm giữ hàng hải cũng được Bộ luật Hàng hải sửa đổi năm 2005 nêu tương tự tại Điều 36, Khoản 1 Bộ luật Hàng hải VN, quyền cầm giữ hàng hải (Maritime lien) là quyền của người có khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 37 của Bộ luật này được ưu tiên trong việc đòi bồi thường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu mà tàu biển đó đã làm phát sinh khiếu nại hàng hải (Maritime Claim). Tiếp đó tại Khoản 4 Điều này quy định thêm: “Quyền cầm giữ hàng hải không bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu, dù người mua tàu biết hay không biết về việc tàu biển đã liên quan đến khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải” [6].
Khoản 3 Điều luật này còn quy định quyền cầm giữ hàng hải được thực hiện thông qua lệnh bắt giữ tàu của tòa án có thẩm quyền. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người có quyền cầm giữ hàng hải có thể là chủ tàu trong trường hợp yêu cầu chủ hàng, người thuê vận chuyển phải có nghĩa vụ trả tiền cước vận chuyển, các chi phí phụ như tiền đặt trước, tiền thuê đậu tàu, tiền thuê cầu cảng hoặc chi phí đóng góp vào tổn thất chung, tiền công cứu hộ theo mức tỷ lệ với giá trị hàng hóa và phù hợp với những quy định của hợp đồng vận chuyển hoặc vận đơn. Có thể là chủ hàng, người bảo hiểm yêu cầu bắt giữ tàu nhằm mục đích buộc người vận chuyển phải cung cấp đầy đủ bộ chứng từ hàng hải, hoặc đòi bồi thường thiệt hại mà người vận chuyển gây ra. Đây là hình thức tạm giữ tài sản của người mắc nợ, để siết nợ nhưng phải có sự đồng ý của Giám đốc Cảng vụ.
Bắt giữ tàu theo lệnh của Tòa án (Arrest by court) Đây là biện pháp buộc chủ tàu, người thuê tàu hay người quản lý tàu. phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ vi phạm một hay nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Cơ sở của trách nhiệm dân sự là hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân là một trong các bên tham gia giao dịch dân sự đó. Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định bắt giữ tàu biển nhằm mục đích buộc chủ tàu, người thuê tàu, người quản lý tàu.
phải bồi thường thiệt hại đã gây ra.