Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về DALY Phương pháp dùng chỉ số DALY (hay gọi tắt là phương pháp DALY) để đo lường gánh nặng bệnh tật, lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo phát triển toàn cầu của Ngân hàng thế giới vào năm 1993 [45], [51]. Kể từ đó đến nay, phương pháp này được thường xuyên sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD- Global Burden of Disease) của Tổ chức y tế thế giới (WHO), đồng thời nó được thực hiện rộng rãi ở nhiều cấp độ và qui mô ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. DALY là một chỉ số được thiết kế để đánh giá tình trạng sức khỏe và bệnh tật do bởi các bệnh và chấn thương cụ thể [29].
Nó cho phép đo lường và so sánh số năm sống mất đi do tử vong sớm (YLL) và số năm sống khỏe mạnh mất đi do bệnh tật (YLD). Đồng thời nó cho phép so sánh chi phí- hiệu quả của các chương trình can thiệp y tế khác nhau và so sánh gánh nặng bệnh tật giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Đặc biệt theo Gibney, DALY được dùng để xác định các mục tiêu y tế cơ bản, do đó nó được sử dụng như một nguồn thông tin quan trọng trong việc lựa chọn ưu tiên cho các nghiên cứu can thiệp và phân bổ nguồn lực y tế [39]. Một DALY có thể được coi là một năm của cuộc sống “khoẻ mạnh” bị mất do bởi bệnh tật hoặc tử vong sớm.
Giá trị của DALY trên dân số có thể được dùng như một phép đo khoảng cách giữa tình trạng sức khoẻ hiện tại và sức khoẻ của một tình huống lý tưởng, nơi mà toàn bộ dân số sống đạt tuổi thọ cao, trong tình trạng không bệnh tật [33], [49], [52]. Phương pháp DALY lần đầu tiên được sử dụng để đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 1990, do Tổ chức y tế thế giới và Trường Đại học Harvard cùng hợp tác thực hiện theo đề nghị của Ngân hàng thế giới. Nghiên cứu ban đầu này đã ước tính gánh nặng bệnh tật cho hơn 100 nguyên nhân bệnh và chấn thương đối với 5 nhóm tuổi và hai giới của 8 vùng trên toàn cầu. Nó đưa ra một ước tính nhất quán và toàn diện của tỷ lệ bệnh tật và tử vong theo tuổi, giới tính và vùng địa lý [49].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dựa trên cơ sở dữ liệu mở rộng và thông tin được cung cấp bởi các quốc gia thành viên, WHO đã cập nhật các ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho các năm 2000 – 2002 – 2004 và được công bố trong các báo cáo sức khỏe toàn cầu hàng năm của WHO [45]. Các ước tính sau này phản ánh sự thay đổi lớn về các phương pháp ước tính tỷ lệ tử vong trong bối cảnh thiếu dữ liệu, cách tiếp cận được cải tiến để giải quyết các vấn đề về nguyên nhân trong giấy đăng ký tử vong, các chiến lược xây dựng mô hình nguyên nhân tử vong và sử dụng các công cụ cải tiến để đảm bảo tính nhất quán của các ước tính tỷ lệ tử vong và dịch tễ học [45]. Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu-1990 có một số hạn chế đó là: việc tính toán DALY phức tạp do phải sử dụng chiết khấu và trọng số tuổi; không xử lý vấn đề đồng bệnh tật nên số DALY được ước tính cao hơn so với số năm sống khỏe mạnh bị mất thực tế; bộ trọng số bệnh tật được xác định bởi các chuyên gia, không mang tính phổ thông nên không phản ánh đúng thực trạng sức khỏe bị mất; quan điểm tiếp cận dựa vào số mới mắc, trong khi đa số các nguồn số liệu có sẵn thường là số hiện mắc [45]. Năm 2007, Bill và Melinda đã tài trợ cho Dự án nghiên cứu GBD-2010, dẫn đầu là Viện đo lường và đánh giá sức khỏe của Trường đại học Washington, với sự hợp tác của nhiều tổ chức như: WHO, Trường đại học Harvard, Johns Hopkins và Trường đại học Queensland.
Nghiên cứu này dựa trên sự thẩm định dịch tễ học rộng hơn thông qua mạng lưới khoảng 40 nhóm chuyên gia nghiên cứu, gồm hàng trăm các chuyên gia thuộc các chuyên ngành bệnh tật và chấn thương, bao gồm nhiều người đang làm việc ở các chương trình của WHO [45]. Nghiên cứu GBD-2010 đã phát triển một số phương pháp mới để đánh giá các nguyên nhân tử vong và tổng hợp các dữ liệu dịch tễ học để trình bày các ước tính tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc bệnh của 21 vùng trên toàn cầu [45]. Đặc biệt, nghiên cứu GBD- 2010 đã ước tính lại toàn bộ trọng số bệnh tật của 220 trạng thái của 291 nguyên nhân bệnh, chấn thương và 1.160 di chứng của nó theo phương pháp mới được chuẩn hóa [63]. Trong các nghiên cứu trước đây, các tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu của GBD-1990, được cải tiến, cập nhật cho phù hợp với điều kiện cụ thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của từng địa phương.
Phương pháp nghiên cứu GBD-2010, cho đến hiện nay chưa được sử dụng nhiều, ưu điểm của phương pháp này so với các phương pháp trước đây là: - Sử dụng Bảng sống chuẩn mới của WHO với kỳ vọng sống lúc sinh là 86 tuổi cho cả nam và nữ để tính toán YLL. - Việc tính toán YLD đơn giản với số hiện mắc của mỗi di chứng nhân với trọng số bệnh tật tương ứng. - Điều chỉnh cho đồng bệnh tật trong tính toán YLD. - Không sử dụng chiết khấu và trọng số tuổi trong tính toán DALY [45].
Năm 2012, Theo Vos và cộng sự (CS) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu GBD-2010 để tiến hành nghiên cứu phân tích hệ thống số năm sống bị mất do bệnh tật (YLD) của 1.160 di chứng của 289 bệnh và chấn thương, so sánh ở 2 thời điểm: 1990- 2010 [71]. Murray và CS cũng đã sử dụng phương pháp này để đo lường gánh nặng bệnh tật của 291 bệnh và chấn thương ở 21 vùng trên toàn cầu, có so sánh giữa 2 thời điểm 1990 – 2010 [56]. Năm 2015, Theo Vos và CS đã tiến hành đo lường tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc và số năm sống bị mất do bệnh tật của 301 bệnh cấp tính, mãn tính và chấn thương của các quốc gia và vùng lãnh thổ [72]; sau đó Murray tiếp tục đo lường gánh nặng bệnh tật của 306 bệnh và chấn thương của 188 quốc gia từ năm 1990 – 2013 [55]. Năm 2016, Murray đã đo lường gánh nặng bệnh tật của 315 bệnh và chấn thương của từng quốc gia, khu vực và của toàn cầu từ năm 1990 – 2015 [53].
Năm 2017, Simon cũng đã đo lường gánh nặng bệnh tật của 333 bệnh và chấn thương toàn cầu 1990 - 2016 với cùng phương pháp [67]. Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng phương pháp dùng chỉ số DALY để đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu của Ngân hàng thế giới được coi là phương pháp chuẩn nhất hiện nay để đo lường gánh nặng bệnh tật, tử vong và các yếu tố nguy cơ cho một cộng đồng [45]. Phần lớn các hạn chế của GBD-1990 đã dần được cải tiến, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phát triển và khắc phục trong nghiên cứu GBD-2010, tạo được sự đồng thuận cao trong các nhà nghiên cứu và phê bình khoa học. Một số khái niệm liên quan 1.
Trọng số bệnh tật: là sự tổn thất chức năng trên một thang điểm, nơi mà 0 là đại diện cho hoàn toàn khỏe mạnh và 1 là đại diện cho trạng thái tương đương tử vong. Hay nói cách khác, trọng số bệnh tật là chỉ số phản ánh mức độ trầm trọng của một trạng thái sức khỏe, nó thay đổi từ 0 (trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh) đến 1 (trạng thái tương đương với tử vong) [45], [58]. Trọng số bệnh tật đo lường mức độ “ưu tiên” của xã hội đối với mỗi tình trạng sức khỏe. Trọng số này không thể hiện sự trải nghiệm hoặc giá trị xã hội của một người khi sống trong điều kiện sức khỏe đó.
Nó chỉ đo lường sự “ưu tiên” của xã hội đối với tình trạng sức khỏe đó so với tình trạng sức khỏe “lý tưởng”. Ví dụ, trọng số bệnh tật của tình trạng liệt hai chi dưới là 0,57 không có nghĩa một người trong tình trạng này là “chết một nửa” hay giá trị xã hội của người đó chỉ bằng một nữa của những người khác. Nó chỉ có nghĩa xã hội đánh giá một năm sống với tình trạng mù lòa (0,43) được chấp nhận hơn so với một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới (0,57) và một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới được xã hội chấp nhận hơn so với một năm sống liên tục trong tình trạng trầm cảm nặng (0,76). Nó cũng có nghĩa rằng xã hội chấp nhận một người sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong hơn là sống 1 năm với tình trạng liệt hai chi dưới và sau đó tử vong.
Bên cạnh đó, xã hội chấp nhận một người sống 3 năm với tình trạng liệt hai chi dưới rồi tử vong hơn là sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong (3 x [1-0,57] = 1,3 năm sống “khỏe mạnh” lớn hơn 1 năm sống trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh) [61]. Để so sánh thời gian sống bị mất do bệnh tật với thời gian sống bị mất do tử vong sớm cần phải có một trọng số cho mỗi lớp. Trong nghiên cứu ban đầu của GBD-1990, trọng số của sáu lớp khuyết tật đã được lựa chọn bởi một nhóm các chuyên gia độc lập, họ không được tham gia vào việc ước tính các tỷ lệ mắc, thời gian hoặc tỷ lệ tử vong của bất kỳ bệnh nào. Họ được triệu tập tại Trung tâm kiểm soát dịch bệnh và lựa chọn trọng số dựa trên cả định nghĩa của từ ngữ và tập hợp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các di chứng bệnh trong mỗi lớp.
Thực tế, họ đã sử dụng phương pháp ước tính độ lớn (Magnitude- estimation) để lựa chọn một số từ 0 đến 1 cho mỗi sáu lớp. Phiếu bình chọn của họ được tính trung bình để tạo ra các trọng số cuối cùng cho mỗi lớp (Bảng 1.1: Định nghĩa của trọng số khuyết tật “Nguồn: Murray, 1994” [48] Lớp Mô tả DW Khả năng hạn chế để thực hiện ít nhất một hoạt động một trong 1 0,096 những lĩnh vực sau: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghề nghiệp. Khả năng hạn chế để thực hiện hầu hết các hoạt động một trong 2 0,220 những lĩnh vực sau: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghề nghiệp.