Phần mở đầu” này. Chúng có ý nghĩa làm căn cứ và tiền đề cho việc xây dựng, triển khai toàn bộ nội dung cuốn sách Friedrich Nietzsche và những suy niệm bên kia thiện ác. Mặt khác, với những tìm tòi, luận giải mới mẻ, những nội dung trên còn mang ý nghĩa “dẫn nhập” để có thể hiểu nội dung cuốn sách của tác giả, cũng có nghĩa là để hiểu “những suy niệm bên kia thiện ác” hay nội dung cuốn sách Bên kia thiện ác của F. Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của sự xem xét ở đây là về phương pháp, trong đó trọng tâm là về tiếp cận giả định.
Mục đích và đối tượng nghiên cứu Trong nội dung mục này ta sẽ xem xét một cách kết hợp giữa mục đích và đối tượng nghiên cứu, trong đó mục đích nghiên cứu được lưu ý hơn. Trước hết cần biết rằng nếu nói đối tượng của nghiên cứu này là tác phẩm Bên kia thiện ác và mục đích nghiên cứu là làm rõ (hay làm sáng tỏ) nội dung tác phẩm này, thì đó chỉ là cách nói chung chung, hình thức. Bởi vì, điều này cũng giống như trong các sách giáo khoa khoa học nói chung, người ta thường trình bày những hiểu biết chung về mục đích và đối tượng nghiên cứu một cách hình thức như thế. Nhưng trong thực tế mục đích cũng như đối tượng hoạt động nói chung, nghiên cứu nói riêng đều là những yếu tố của hoạt động, cho nên chúng chỉ được xác định trong quá trình của hoạt động.
Vì thế, đương nhiên việc xác định mục đích và đối https://thuviensach.vn tượng nghiên cứu của đề tài này cũng tuân theo quy tắc chung ấy. Thực tế cho thấy đối tượng “Friedrich Nietzsche và những suy niệm bên kia thiện ác” chỉ được xác định trong quá trình đọc, tìm tòi, nghiên cứu trong một thời gian khá dài với những nỗ lực không ít của tác giả. Lúc đầu, chủ đề hay hội dung nghiên cứu tác phẩm Bên kia thiện ác của tác giả là “những tư tưởng triết học” hay “triết học bên kia thiện ác”, rồi “triết học giá trị”, “triết học giá trị và đạo đức học” của F. Nietzsche trong Bên kia thiện ác.
Tuy nhiên, trong quá trình này bên cạnh chủ đề chính là những tư tưởng triết học của F. Nietzsche thì những tư tưởng, quan niệm khác của ông cũng thường xuyên được quan tâm trong mối liên hệ chặt chẽ với từ ngữ, khái niệm, quan niệm mà ông sử dụng là “bên kia thiện ác” của tác phẩm. Do đó, cuối cùng thì chủ đề-đối tượng cơ bản là “những suy niệm bên kia thiện ác” đã hình thành, hay đã được xác định một cách cụ thể. Căn cứ vào đó, mục đích nghiên cứu cũng được xác định một cách cụ thể là đem lại một hiểu biết khả dĩ đúng đắn, khách quan “những suy niệm bên kia thiện ác”, điều đó cũng có nghĩa là hiểu đúng, khách quan nội dung tác phẩm Bên kia thiện ác của F.
Việc xác định được mục đích, đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể như vậy cho ta biết rõ điều mình sẽ phải làm và có thể làm được, quyết định việc lựa chọn, xây dựng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu phù hợp. Phương pháp Người ta có thể “định nghĩa”, hiểu phương pháp với rất nhiều nghĩa, thậm chí khác nhau. Nhưng ở đây chúng ta hiểu nó theo một nghĩa chung nhất là phương pháp có thể được xem là con đường hay cách thức nhất định nhằm đạt được mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, trong “một” nghĩa chung nhất này có thể lại bao gồm nhiều nghĩa, chẳng hạn như có thể hiểu là trong “con đường” này có một “con đường” được hiểu là “tổng thể (hay https://thuviensach.vn toàn bộ, hệ thống) những quan điểm, nguyên tắc nhằm đạt được mục đích của hoạt động”.
Ở đây chúng ta sẽ lựa chọn, coi trọng việc hiểu phương pháp theo nghĩa này. Bởi vì, hiểu phương pháp là “tổng thể (hay hệ thống) những quan điểm, nguyên tắc” (nhằm đạt được mục đích của hoạt động) là nhằm thấy ra, nhấn mạnh phương pháp về bản chất, tức là những quan điểm, nguyên tắc của nó. Trong một tổng thể các quan đỉểm, nguyên tắc ấy bao giờ cũng có một hoặc một nhóm quan điểm, nguyên tắc căn bản làm nền tảng hay xuất phát điểm (căn cứ) cho các quan điểm, nguyên tắc khác hay cho cái “tổng thể” (hoặc hệ thống) ấy và chúng là cái đặc trưng cho một phương pháp nào đó. Vì vậy, cần phải xác định cho được quan điểm, nguyên tắc hay nhóm quan điểm, nguyên tắc này trong lựa chọn, xây dựng một phương pháp nhất định.
Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với đề tài nghiên cứu này, khi vấn đề lựa chọn, xây dựng tiếp cận giả định được đặt ra. Song, việc lựa chọn hay xây dựng một phương pháp, xác định quan điểm, nguyên tắc cơ bản ở đây chủ yếu nằm ở nội dung, quá trình nghiên cứu thực tế. Nhưng cần nói thêm rằng một phương pháp hay một hệ phương pháp có thể bao gồm không chỉ những nguyên tắc, mà còn cả những phương pháp với tư cách là những yếu tố, thành phần của nó. Cho nên dưới đây, sau “tiếp cận giả định” thì một số phượng pháp khác sẽ được xem xét với nghĩa là những phương pháp cụ thể hay thành phần của toàn bộ phương pháp của đề tài này.
Tiếp cận giả định. Thường thường trong các nghiên cứu người ta hay nói nhiều về quan điểm, phương pháp mà ít nói đến, thậm chí không nói đến sự tiếp cận hoặc nếu có nói đến cũng rất khó biết được người ta hiểu nội dung, ý nghĩa của từ ngữ, khái niệm này như thế nào. Điều này có nghĩa là trong các nghiên cứu như thế hoặc tiếp cận là không cần thiết, không quan trọng hoặc người ta không quan tâm, không coi trọng nó hoặc không hiểu, không thấy được vị trí, ý nghĩa của tiếp cận trong hệ thống hay https://thuviensach.vn hệ phương pháp. Nói chung từ ngữ hay khái niệm “tiếp cận” được người ta hiểu với nhiều nghĩa khác nhau, thường là thiếu hoặc không có sự thống nhất.
Tôi dùng từ này, khái niệm này ở đây trước hết vì nó có một nghĩa đặc trưng rất quan trọng là ở chỗ nó biểu hiện “khuynh hướng” hay “tính khuynh hướng” nói chung của hoạt động tinh thần, nhận thức, hay nói khác đi nó có ý nghĩa hướng dẫn (dẫn đường). Nghĩa của từ Hán Việt “tiếp cận” có nghĩa là “đến gần”, “tới gần”, nhưng trên thực tế nó có nghĩa là bằng cách nào đó để thực sự hiểu, thực sự nắm được đối tượng. Hơn nữa theo cách hiểu của tôi, tiếp cận mang nội dung, ý nghĩa “khuynh hướng” (hay “tính khuynh hướng”) chung chứ không đơn giản chỉ là khuynh hướng. Do đó, tiếp cận không như, không đồng nhất với những quan điểm, phương pháp hay những cách thức, thuật tác nghiên cứu cụ thể.
Nó có thể bao gồm những yếu tố này, nhưng quan trọng là ở chỗ nó bao quát và nhất là hướng dẫn chúng. Trong một hệ thống hay một hệ phương pháp có thể xem tiếp cận là một quan điểm, một nguyên tắc cơ bản bao trùm mang tính chất hướng dẫn mà dựa vào nó người nghiên cứu với những quan điểm, phương pháp, cách thức cụ thể và cả những tiền đề, điều kiện hoạt động khác có thể nắm được (“đến gần”) đối tượng. Sự nghiệp tư tưởng, triết học, các tác phẩm cũng như cuộc đời riêng của F. Nietzsche đã gây nên, đưa đến những tranh cãi, đánh giá rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau rất quyết liệt xuất phát từ những quan điểm, góc nhìn khác nhau, theo các hướng cả tích cực và tiêu cực.
Theo nhận xét trên trang Friedrich Nietzsche của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (tiếng Việt) trên Google, thì F. Nietzsche là một trong số các nhà triết học quan trọng mà các tác phẩm của ông có lẽ đã tạo ra ít sự nhất trí nhất giữa những người giải nghĩa, mặc dù các khái niệm quan trọng ở ông được xác định dễ dàng, nhưng người ta đã phải tranh cãi quyết liệt về ý nghĩa của mỗi khái niệm ấy, chưa nói gì đến tầm quan trọng tương đối của chúng. Từ thực tế https://thuviensach.vn nghiên cứu F. Nietzsche, nhất là từ nghiên cứu tác phẩm Bên kia thiện ác, tôi thấy rất cần phải lưu ý đến nhận xét quan trọng này nếu hi vọng có được một kết quả khả dĩ hơn.
Vì vậy, để thấy rõ hơn tình huống “có vấn đề” và từ đó có thể xác định được sự tiếp cận hay hướng nghiên cứu chung phù hợp, cần phải tham chiếu những nghiên cứu, đánh giá về F. Nietzsche theo những khuynh hướng quan điểm khác nhau. Căn cứ vào những tài liệu nghiên cứu nhất định về F. Nietzsche, tôi tổng hợp và phân chia những nghiên cứu này, nhất là những đánh giá về F.
Nietzsche thành ba khuynh hướng quan điểm chính: 1) Khuynh hướng phủ nhận; 2) Khuynh hướng khẳng định; 3) Khuynh hướng giả định. Có thể những tên gọi “phủ nhận”, “khẳng định” và “giả định” nói trên chưa hoàn toàn phù hợp và sự phân biệt các khuynh hướng này không có ý nghĩa tuyệt đối, nhưng có thể hiểu nội dung, ý nghĩa của những khuynh hướng quan điểm này theo nội dung những luận giải dưới đây. Về khuynh hướng phủ nhận. Có thể xem phần viết về F.
Nietzsche trong cuốn Từ điển triết học do các tác giả Nga M. Iuđin biên soạn là một dẫn chứng tiêu biểu nhất cho khuynh hướng quan điểm này. Các tác giả này viết: “Nit-sơ Phơ-ri-đơ-rích là nhà triết học duy tâm chủ nghĩa Đức, cực kì phản động, công khai tán dương sự bóc lột của tư bản và sự xâm lược, người tiên khu của những “nhà tư tưởng” phát-xít. Triết học của Nit-sơ xuất hiện trong thời kì chủ nghĩa tư bản tiến vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa; đó là sự phản ứng của tư tưởng tư sản đứng trước tình trạng những mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc, trước hoạt động chính trị ngày càng tăng của giai cấp công nhân và sự truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Toàn bộ hệ thống tư tưởng của Nít-sơ đầy dẫy lòng hận thù đối với “tinh thần cách mạng”, đối với quần chúng nhân dân. Theo ông ta, lao động là một sự nhục nhã; theo thuật ngữ của ông ta, sự nô dịch là “thực chất của văn hóa”, còn sự bóc lột thì dính liền với “thực chất của tất https://thuviensach.vn cả mọi sinh vật”. Quần chúng nhân dân chỉ là “nô lệ”, là “đàn súc vật”. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã làm cho ông ta phát điên.
Sự tồn tại của công đoàn, quyền bầu cử dành cho công nhân đều làm cho ông ta phẫn nộ.