Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia chịu tác động nặng nề của thiên tai ven biển với trung bình từ 7 đến 12 cơn bão nhiệt đới đổ bộ mỗi năm. Thành phố Hải Phòng sở hữu dải bờ biển dài 125 km tiếp giáp Vịnh Bắc Bộ, hàng năm thường xuyên hứng chịu trực tiếp từ 1 đến 2 cơn bão lớn, đe dọa nghiêm trọng đến hệ thống đê điều và tài sản của cư dân ven duyên hải. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, hệ sinh thái rừng ngập mặn được xác định là giải pháp công trình sinh thái tự nhiên tối ưu giúp giảm thiểu rủi ro xói lở và hấp thụ sóng biển. Tuy nhiên, các làn sóng phát triển đầm nuôi tôm tự phát sau cải cách kinh tế thập niên 1990 đã khiến diện tích rừng ngập mặn tại địa phương suy thoái nghiêm trọng.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự thiếu hụt một bộ tiêu chí định lượng hoàn chỉnh để đánh giá hiệu quả thực thi của các chính sách quản lý tài nguyên rừng ngập mặn qua từng thời kỳ phát triển. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên của tác giả Nguyễn Nguyệt Anh, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Hải Hòa tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (chương trình liên kết với Đại học Bang Colorado, Hoa Kỳ), tập trung giải quyết ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Thứ nhất, điều tra và hệ thống hóa toàn bộ các chính sách, dự án quản lý rừng ngập mặn ven biển được áp dụng tại địa bàn nghiên cứu từ năm 1990 đến năm 2016.

Thứ hai, đánh giá định lượng hiệu quả chính sách dựa trên bộ ba chỉ thị tích hợp gồm chỉ thị sinh thái (biến động diện tích che phủ), chỉ thị kinh tế (chuyển dịch sinh kế và thu nhập hộ gia đình) và chỉ thị xã hội (mức độ hài lòng cùng sự tham gia của người dân).

Thứ ba, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi chính sách và hoàn thiện mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại xã Đại Hợp (huyện Kiến Thụy với diện tích tự nhiên 1.097,79 ha, bờ biển dài 4,2 km) và phường Bàng La (quận Đồ Sơn với diện tích 966,73 ha), bao quát dải rừng ngập mặn phòng hộ trải dài hơn 7 km dọc đê biển. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi định lượng chính xác sự phục hồi diện tích rừng từ 274,77 ha năm 2005 lên 587,79 ha năm 2016 (tăng trưởng 113,9%), đồng thời chứng minh nguồn lợi thủy sản dưới tán rừng đóng góp trực tiếp từ 85 đến 95 tỷ đồng mỗi năm cho kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Management - CBM) theo định hướng của Bryson (2004) và Catherine (2006). Khung lý thuyết này khẳng định sự thành công của chính sách tài nguyên phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ tham gia thực chất của các bên liên quan tại cơ sở vào toàn bộ chu trình từ lập kế hoạch, giám sát đến thực thi và chia sẻ lợi ích.

Bên cạnh đó, tác giả tích hợp Khung đánh giá đa tiêu chí tài nguyên đất ngập nước (Integrated Wetland Research Framework) của Turner và cộng sự (2000), kết hợp Ma trận phân tích quyền lực và mức độ quan tâm (Power versus Interest Grid) của Eden và Ackermann (1998). Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên ba khái niệm và chỉ thị đánh giá then chốt:

  1. Chỉ thị sinh thái: Phản ánh biến động diện tích không gian, cấu trúc lớp phủ mặt đất (LULC) và mức độ phục hồi sinh khối rừng ngập mặn được chuẩn hóa qua chỉ số thực vật NDVI.
  2. Chỉ thị kinh tế: Đánh giá sự cải thiện sinh kế bền vững theo định nghĩa của Hiệp hội Chữ thập đỏ quốc tế (IFRC), tập trung vào sản lượng khai thác hải sản tự nhiên và cơ cấu thu nhập hộ gia đình.
  3. Chỉ thị xã hội: Xác định mức độ hài lòng của cộng đồng (Social Satisfaction) và mức độ trao quyền xã hội (Social Empowerment) thông qua thang đo 3 cấp độ tham gia quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, luận văn kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ địa tin học viễn thám và phương pháp điều tra xã hội học chuyên sâu:

  • Nguồn dữ liệu viễn thám: Sử dụng chuỗi ảnh vệ tinh đa thời gian Landsat 5 TM và Landsat 7 ETM+ qua 4 mốc năm tiêu biểu gồm 1990, 1997, 2005 và 2016 (độ phân giải không gian 30 m, tọa độ Path 126 / Row 46). Nguồn ảnh vệ tinh được đối chiếu với hệ thống bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn tỷ lệ 1:50.000 do Viện Hải dương học Hải Phòng cung cấp.
  • Phương pháp phân tích ảnh vệ tinh: Ứng dụng thuật toán phân loại không giám sát (Unsupervised Classification) kết hợp thuật toán tính toán chỉ số khác biệt thực vật NDVI bằng công thức tỷ số giữa dải sóng cận hồng ngoại (Band 4) và dải sóng đỏ (Band 3). Sau đó, lệnh tái phân loại (Reclass) trên phần mềm ArcGIS được áp dụng để bóc tách lớp phủ rừng ngập mặn và thành lập bản đồ biến động động thái rừng qua 3 giai đoạn (1990 - 1997, 1997 - 2005, 2005 - 2016). Lý do lựa chọn phương pháp phân loại không giám sát kết hợp NDVI là nhằm tối ưu hóa việc phân tách tự động các đối tượng phổ thực vật ngập nước phức tạp trên diện tích rộng lớn mà không bị phụ thuộc vào định kiến mẫu huấn luyện ban đầu. Độ chính xác giải đoán ảnh được kiểm chứng bằng 80 điểm kiểm tra cho các giai đoạn lịch sử và 132 điểm tọa độ thực địa thu thập bằng thiết bị định vị vệ tinh GPS vào năm 2016, đạt độ tin cậy cao từ 80,0% đến 85,8%.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 55 hộ gia đình tại hai xã Đại Hợp và Bàng La. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm độ tuổi, ngành nghề kinh tế (nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản, làm nông nghiệp, làm muối, dịch vụ) và các phân tầng mức sống khác nhau (hộ khá giả, trung bình, hộ nghèo). Tác giả tiến hành phỏng vấn có cấu trúc bằng bảng hỏi định lượng, kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp đi tuyến điều tra thực địa (Transect Walk) với các đối tượng chủ chốt như cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, trưởng thôn và đội viên các tổ bảo vệ rừng. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel xuyên suốt dòng thời gian lịch sử 26 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu đa nguồn đã chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm về hiệu quả quản lý rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu:

Thứ nhất, diện tích rừng ngập mặn trải qua biến động sâu sắc qua 3 giai đoạn chính sách. Trong giai đoạn 1990 - 1997, diện tích rừng suy thoái nghiêm trọng từ 508,95 ha xuống 306,54 ha (suy giảm 39,8%, mất 202,41 ha). Giai đoạn 1997 - 2005 ghi nhận diện tích giảm nhẹ còn 274,77 ha (giảm 10,4%, tương đương 31,77 ha) do rừng mới trồng chưa khép tán. Bước sang giai đoạn 2005 - 2016, diện tích rừng phục hồi bùng nổ lên mức 587,79 ha (tăng trưởng 113,9%, tăng thêm 313,02 ha).

Thứ hai, sinh kế địa phương phụ thuộc mật thiết vào hệ sinh thái rừng ngập mặn khi hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản chiếm 43,2% cơ cấu nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình. Tán rừng ngập mặn phát triển tốt (chủ yếu là loài Trang - Kandelia obovata và Bần chua - Sonneratia caseolaris) đã tạo sinh cảnh trù phú cho các loài giáp xác và thân mềm. Hoạt động khai thác tự nhiên mang lại nguồn thu nhập trực tiếp rất cao: sản lượng khai thác cáy đạt 3-4 kg/ngày (giá bán 50.000 đồng/kg), còng đạt 3-4 kg/ngày (40.000 đồng/kg), cá lác đạt 2 kg/ngày (80.000 đồng/kg) và con hà đạt 1 kg/ngày (100.000 đồng/kg). Một lao động địa phương tham gia đánh bắt thủy sản ven bờ dưới tán rừng có thể tăng thêm thu nhập bình quân khoảng 6 triệu đồng mỗi tháng. Riêng tại xã Đại Hợp, tổng giá trị thủy sản khai thác hàng năm đạt từ 85 đến 95 tỷ đồng, chiếm 48% tổng thu nhập toàn xã.

Thứ ba, sự hài lòng của người dân đối với các chính sách và dự án quản lý rừng có chuyển biến tích cực vượt bậc. Tỷ lệ hộ dân hoàn toàn không hài lòng giảm triệt để từ 16,4% ở giai đoạn sơ khai (1990 - 1997) xuống còn 0% trong giai đoạn phát triển (2005 - 2016). Ngược lại, tỷ lệ người dân hoàn toàn hài lòng và khá hài lòng tăng trưởng ấn tượng từ mức 1,8% lên tổng cộng 42,4%.

Thứ tư, tỷ lệ người dân tham gia vào mô hình quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng (Cấp độ 3) tăng trưởng ngoạn mục từ 0% ở giai đoạn đầu lên 78,5% trong giai đoạn 2005 - 2016. Dù vậy, một phát hiện hạn chế lớn là tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến và phản hồi cho các nhà hoạch định chính sách (Cấp độ 2) duy trì ở mức 0% xuyên suốt 26 năm nghiên cứu.

Thảo luận kết quả

Sự biến động của diện tích rừng phản ánh rõ nét tính chất của các công cụ chính sách qua từng thời kỳ:

Giai đoạn 1990 - 1997 chứng kiến sự suy thoái nặng nề do tác động của cơ chế thị trường mở cửa sau năm 1991, thúc đẩy làn sóng phá rừng đắp đầm tôm tự phát. Dù Chương trình 327 được ban hành năm 1993 nhưng không đạt được kết quả tại địa phương do thiếu sự đầu tư khoa học kỹ thuật và cơ chế quản lý còn lỏng lẻo.

Giai đoạn 1997 - 2005 là bước ngoặt phục hồi khi Dự án Trồng rừng ngập mặn phòng ngừa thảm họa do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản (JRC) và Đan Mạch tài trợ được triển khai song hành cùng Dự án 661 (trồng 5 triệu ha rừng với tổng vốn đầu tư 31.650 tỷ đồng theo Quyết định số 661/QĐ-TTg). Sự thành công của giai đoạn này đến từ việc áp dụng quy trình lâm sinh hợp lý: ưu tiên trồng loài cây Trang tiên phong trước khi trồng Bần chua, giúp tỷ lệ cây sống đạt tới 62,5% và tạo lá chắn bảo vệ vững chắc tuyến đê biển dài hơn 7 km.

Giai đoạn 2005 - 2016 ghi nhận sự ổn định nhờ việc thành lập các đội tuần tra bảo vệ rừng chuyên trách tại xã Bàng La (duy trì 18 người bảo vệ trên mỗi kilômét đê, tuần tra 24/24 giờ) và xã Đại Hợp (phân chia rừng thành các lô nhỏ, mỗi nhóm 4 người chịu trách nhiệm).

Trong các công trình nghiên cứu, dữ liệu biến động không gian được trình bày trực quan và hiệu quả nhất thông qua các bản đồ chuyên đề động thái lớp phủ LULC với 4 trạng thái không gian (Không có rừng, Mất rừng, Rừng trồng mới và Rừng ổn định), kết hợp biểu đồ cột thể hiện tương quan diện tích rừng qua 4 mốc năm. Đồng thời, cấu trúc quyền lực và sự tương tác giữa các bên liên quan được hiển thị sinh động qua mô hình lưới Power vs. Interest, chỉ ra rằng cộng đồng địa phương là nhóm có mức độ quan tâm cao nhất nhưng quyền lực chính sách lại thấp nhất, đòi hỏi sự chuyển dịch sang mô hình đồng quản lý bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đánh giá thực nghiệm, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý rừng ngập mặn trong giai đoạn tiếp theo:

  1. Thể chế hóa và mở rộng mô hình Quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng (CBM): Thiết lập cơ chế pháp lý giao khoán đất rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình và nhóm hộ sống ven chân đê, gắn liền với quyền khai thác hải sản có kiểm soát dưới tán rừng. Mục tiêu định lượng là nâng tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến phản biện chính sách từ mức 0% hiện tại lên tối thiểu 45%, đồng thời duy trì diện tích rừng ngập mặn ổn định trên 600 ha. Lộ trình thực hiện diễn ra trong vòng 24 tháng (từ năm 2017 đến năm 2019), do Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy, Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn chủ trì phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng.

  2. Tăng cường liên kết liên xã trong công tác giám sát và tuần tra rừng: Xây dựng quy chế phối hợp tuần tra giáp ranh dọc toàn bộ dải rừng ngoài đê biển dài hơn 7 km giữa hai xã Đại Hợp và Bàng La. Triển khai các tổ phản ứng nhanh, duy trì chế độ tuần tra trực ban 24/24 giờ nhằm ngăn chặn 100% các hành vi chặt phá cây hoặc sử dụng kích điện khai thác hải sản mang tính hủy diệt. Thời gian hoàn thiện quy chế trong 6 tháng và duy trì đánh giá định kỳ hàng quý, do Ủy ban nhân dân xã Đại Hợp, Ủy ban nhân dân phường Bàng La phối hợp với Đồn Biên phòng địa phương thực hiện.

  3. Áp dụng đồng bộ các giải pháp lâm sinh kỹ thuật và làm giàu rừng: Tiến hành trồng bổ sung làm giàu rừng hỗn giao đa loài với mật độ cao, chú trọng các loài cây bản địa có khả năng thích ứng cao như Bần chua (Sonneratia caseolaris), Trang (Kandelia obovata) và Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza) tại các vùng bãi bồi cửa sông Văn Úc. Mục tiêu đạt tỷ lệ cây sống khi trồng mới trên 75% và độ tàn che của tán rừng đạt trên 85%. Lộ trình triển khai theo chu kỳ 5 năm (2017 - 2022), do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Phòng phối hợp cùng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam hướng dẫn kỹ thuật.

  4. Đa dạng hóa cơ chế tài chính và chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES): Thiết lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã thông qua việc trích từ 10% đến 15% nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái ven biển và phí khai thác thủy sản. Mở rộng quan hệ đối tác huy động nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế như GIZ, MFF và Hội Chữ thập đỏ. Đảm bảo nguồn kinh phí tự chủ tối thiểu 500 triệu đồng mỗi năm cho mỗi xã nhằm chi trả thù lao tuần tra đạt mức 2,5 triệu đồng/người/tháng cho các đội viên bảo vệ rừng. Thời gian triển khai cơ chế tài chính trong 2 năm, do Sở Tài chính và Hội Chữ thập đỏ thành phố Hải Phòng điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách môi trường: Bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng cùng Ủy ban nhân dân các huyện ven biển. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học từ dữ liệu thực chứng 26 năm giúp xây dựng quy hoạch không gian biển và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về giao khoán rừng phòng hộ ven biển dài 125 km của thành phố.

  2. Các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế: Điển hình như Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản (JRC), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), Sáng kiến Rừng ngập mặn cho Tương lai (MFF). Luận văn là tài liệu tham chiếu quý giá để đánh giá hiệu quả sau đầu tư của các dự án trồng rừng ngập mặn phòng chống thiên tai (như dự án trồng 22.439 ha rừng ngập mặn), từ đó xây dựng các chương trình tài trợ mới có tính thích ứng cao.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Lâm nghiệp, Biến đổi Khí hậu và Công nghệ GIS. Luận văn cung cấp quy trình chuẩn hóa về việc tích hợp ảnh viễn thám Landsat 30m, chỉ số NDVI và phương pháp phân loại không giám sát với độ chính xác đạt trên 85% để định lượng biến động tài nguyên rừng.

  4. Chính quyền cấp xã và ban quản lý rừng cộng đồng ven biển: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế phân chia tổ nhóm bảo vệ rừng (nhóm 4 người trên từng lô rừng) và mô hình gắn kết bảo tồn rừng ngập mặn với việc duy trì sinh kế khai thác thủy sản mang lại giá trị từ 85 đến 95 tỷ đồng mỗi năm cho người dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chính sách quản lý rừng ngập mặn giai đoạn 1990 - 1997 lại không đạt được hiệu quả mong muốn?

Nguyên nhân chính xuất phát từ tác động của chính sách mở cửa kinh tế sau năm 1991, thúc đẩy người dân ồ ạt chuyển đổi đất ngập mặn sang đầm nuôi tôm xuất khẩu. Thêm vào đó, Chương trình 327 thiếu cơ chế giám sát và hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh đồng bộ, khiến diện tích rừng ngập mặn tại Đại Hợp và Bàng La suy giảm nghiêm trọng 39,8% (mất 202,41 ha).

Dự án của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản giai đoạn 1997 - 2005 đã mang lại bước đột phá kỹ thuật nào?

Dự án đã áp dụng kỹ thuật trồng rừng hai bước vô cùng bài bản: ưu tiên trồng loài cây Trang (Kandelia obovata) có khả năng chống chịu sóng gió làm loài cây tiên phong cố định bãi bồi trước khi trồng loài Bần chua (Sonneratia caseolaris). Kỹ thuật này giúp tỷ lệ sống của cây ngập mặn đạt tới 62,5% và bảo vệ kiên cố hơn 7 km đê biển.

Hoạt động khai thác hải sản dưới tán rừng đóng góp thế nào vào thu nhập hộ gia đình?

Tán rừng ngập mặn tạo bãi sinh sản tự nhiên cho các loài thủy hải sản giá trị cao. Việc khai thác cáy (50.000 đồng/kg), còng (40.000 đồng/kg), cá lác (80.000 đồng/kg) và con hà (100.000 đồng/kg) giúp mỗi lao động tăng thêm thu nhập bình quân 6 triệu đồng mỗi tháng. Tại xã Đại Hợp, nguồn thu này đóng góp từ 85 đến 95 tỷ đồng hàng năm.

Phương pháp viễn thám và GIS được ứng dụng như thế nào để đo lường biến động diện tích rừng?

Nghiên cứu sử dụng chuỗi ảnh vệ tinh Landsat 30m qua 4 thời kỳ (1990, 1997, 2005, 2016), trích xuất chỉ số khác biệt thực vật NDVI và phân loại không giám sát trên phần mềm ArcGIS. Phương pháp này đã xây dựng bản đồ động thái lớp phủ LULC với độ chính xác đạt từ 80,0% đến 85,8% khi kiểm chứng qua 132 điểm thực địa GPS.

Đâu là rào cản lớn nhất trong việc thực thi mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu?

Rào cản lớn nhất là người dân địa phương hoàn toàn không có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến hoặc phản hồi vào quy trình xây dựng chính sách (tỷ lệ tham gia Cấp độ 2 đạt 0% suốt 3 giai đoạn). Ngoài ra, sau khi dự án thí điểm của Viện Khoa học Lâm nghiệp kết thúc năm 2008, nguồn kinh phí hỗ trợ bị gián đoạn khiến việc giám sát suy giảm.

Kết luận

  • Biến động diện tích rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng phản ánh trực tiếp hiệu lực chính sách: sau giai đoạn suy thoái 39,8% (1990 - 1997), diện tích rừng đã phục hồi mạnh mẽ 113,9% trong giai đoạn 2005 - 2016, đạt tổng diện tích che phủ 587,79 ha.
  • Sinh kế của người dân ven biển gắn liền hữu cơ với rừng ngập mặn khi các hoạt động đánh bắt hải sản dưới tán rừng mang lại thêm 6 triệu đồng/tháng cho mỗi lao động và tạo ra giá trị từ 85 đến 95 tỷ đồng mỗi năm cho xã Đại Hợp.
  • Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương tăng trưởng vượt bậc với tỷ lệ hài lòng đạt trên 42% và tỷ lệ tham gia mô hình quản lý rừng cộng đồng đạt 78,5% trong giai đoạn 2005 - 2016.
  • Khoảng trống lớn nhất trong quản trị tài nguyên là tỷ lệ người dân tham gia phản biện chính sách vẫn ở mức 0%, đòi hỏi phải có cơ chế thể chế hóa đối thoại hai chiều giữa chính quyền và nhân dân.
  • Luận văn đã xây dựng thành công khung phương pháp luận đánh giá hiệu quả chính sách tích hợp ba chiều Sinh thái - Kinh tế - Xã hội, ứng dụng công nghệ viễn thám GIS với độ tin cậy kiểm chứng đạt trên 85%.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để chuyển đổi từ phương thức quản lý hành chính đơn thuần sang mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại khu vực duyên hải Bắc Bộ.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần triển khai thí điểm thể chế hóa quyền quản lý rừng cho người dân trong giai đoạn 2017 - 2020, tiến tới áp dụng toàn diện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và liên kết liên xã trong giai đoạn 2020 - 2025.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương hãy nghiên cứu và ứng dụng ngay bộ chỉ thị đánh giá cùng khung quản lý CBM được trình bày trong luận văn để nâng cao hiệu lực quản lý tài nguyên và bảo vệ vững chắc dải bờ biển trước thách thức của biến đổi khí hậu.