Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu hệ rắn (Serpentes) trên thế giới hiện có khoảng 3.789 loài thuộc 520 chi và 20 họ, phân bố ở hầu hết các châu lục ngoại trừ Nam Cực. Rắn đóng vai trò sinh thái thiết yếu trong việc duy trì cân bằng lưới thức ăn, bảo vệ hệ sinh thái khỏe mạnh và cung cấp dịch vụ sinh thái thông qua việc kiểm soát các loài dịch hại. Tuy nhiên, trước các tác động ngày càng gia tăng từ con người, nhiều loài rắn đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống, săn bắt thương mại, ngâm rượu và tai nạn giao thông đường bộ (road kill).

Việt Nam có kiểu rừng nhiệt đới phong phú, là nơi sinh sống của hơn 200 loài rắn (ghi nhận đạt 244 loài vào năm 2019), phân bố trải dài từ Bắc vào Nam. Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì có diện tích 12.023 ha, cách trung tâm Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây, sở hữu các đỉnh núi cao như đỉnh Vua (1.296 m), đỉnh Tản Viên (1.226 m) và đỉnh Ngọc Hoa (1.120 m). Sinh cảnh tại đây đặc trưng bởi rừng thường xanh và rừng hỗn giao lá rộng - lá kim ở độ cao trên 600 m. Mặc dù được xem là "lá phổi xanh" của Thủ đô và là nơi cư ngụ của nhiều loài động thực vật quý hiếm, dữ liệu về các loài động vật có xương sống tại VQG Ba Vì – đặc biệt là khu hệ rắn – còn rất hạn chế. Kể từ công bố của Nguyễn và cộng sự năm 2009 ghi nhận 30 loài rắn thuộc 21 chi, chưa có thêm nghiên cứu chuyên sâu nào được cập nhật. Do đó, khóa luận tiến hành đề tài nhằm khảo sát, đánh giá toàn diện đa dạng thành phần loài và phân bố của khu hệ rắn tại khu vực này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát (3.1): Cung cấp thông tin cơ bản về tính đa dạng của khu hệ rắn và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ rắn tại Vườn Quốc gia Ba Vì.
  • Nhiệm vụ/Mục tiêu cụ thể (3.2):
    1. Điều tra thành phần loài rắn tại VQG Ba Vì.
    2. Xác định đặc điểm phân bố của các loài rắn theo sinh cảnh và đai cao tại khu vực nghiên cứu.
    3. Đánh giá các mối đe dọa tác động đến khu hệ rắn tại địa bàn nghiên cứu.
    4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và quản lý khu hệ rắn tại VQG Ba Vì.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Các loài rắn (Bộ có vảy Squamata, Phân bộ Serpentes) xuất hiện tại VQG Ba Vì.
  • Không gian: Các sinh cảnh rừng tự nhiên, suối và các tuyến đường trong phạm vi VQG Ba Vì (thuộc địa phận huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình; tọa độ 20°55’ – 21°07’ Vĩ độ Bắc, 105°18’ – 105°30’ Kinh độ Đông), ở dải độ cao từ 400 m đến 1.200 m so với mực nước biển.
  • Thời gian thực địa: Tiến hành qua 2 đợt điều tra: Đợt 1 từ ngày 24/07/2018 đến ngày 16/11/2018; Đợt 2 từ ngày 12/04/2019 đến ngày 15/07/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các khung phân loại học, tiêu chuẩn phân chia sinh cảnh và hệ thống văn bản pháp lý chuyên ngành trong nước lẫn quốc tế:

  • Khung phân chia đai cao và sinh cảnh: Phân loại độ cao dựa trên nghiên cứu của Bain & Hurley (2011) cho khu vực Đông Dương (chia mốc trên và dưới 800 m), kết hợp địa hình thực tế tại VQG Ba Vì để phân thành 4 dải độ cao (400–600 m, 600–800 m, 800–1.000 m, 1.000–1.200 m). Phân loại sinh cảnh vĩ mô (macrohabitat) dựa trên phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) và "Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học" (2003), chia thành 2 kiểu: Rừng tự nhiên (nature forest) và Suối (stream). Phân loại vi sinh cảnh (microhabitat) gồm 5 dạng: trên mặt đất, trên cây, trên tường, trên đường và dưới lòng suối.
  • Tiêu chuẩn hình thái học: Áp dụng hệ thống thuật ngữ và phương pháp đếm vảy của Manthey & Grossmann (1997), bao gồm các chỉ số chiều dài đầu - thân (SVL), chiều dài đuôi (TaL), tổng chiều dài (TL), chiều dài đầu (HL), chiều rộng đầu (HW), cùng hệ thống vảy đầu, vảy thân (DSR), vảy bụng (VEN), vảy dưới đuôi (SC) và vảy hậu môn.
  • Khung đánh giá giá trị bảo tồn: Đối chiếu theo Sách Đỏ Việt Nam - RBVN (2007), Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (2019), và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý mẫu vật:

  • Khảo sát thực địa theo tuyến cố định ở các độ cao 400 m (suối Ngọc Hoa), 600 m (khu cắm trại Pháp), 800 m (phế tích Nhà thờ Pháp cổ) và 1.200 m (khu phế tích thời Pháp). Thời gian khảo sát tập trung chủ yếu từ 19:00 đến 23:00.
  • Phương pháp thu bắt: Bắt trực tiếp bằng tay đối với loài không độc; sử dụng kẹp bắt rắn (snake tong) và móc bắt rắn (snake hook) đối với loài có độc. Chụp ảnh, ghi nhận tọa độ GPS (Garmin 62st / GPSmap 78s), đo nhiệt độ và độ ẩm không khí bằng máy đo kỹ thuật số Atech (Model KW307-CSJ).
  • Xử lý và lưu trữ mẫu: Gây mê cá thể bằng ethyl acetate trong bình kín (theo Simmons, 2002); gắn thẻ thực địa (kí hiệu BV); cố định hình thái trong cồn 80% từ 4–6 giờ, sau đó chuyển sang bảo quản lâu dài trong cồn 70%. Mẫu mô được tách riêng và lưu trữ trong cồn 95%. Toàn bộ mẫu vật được lưu giữ tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp (VNUF).
  • Phân tích hình thái và giám định loài: Đo kích thước bằng thước kẹp điện tử Etopoo (độ chính xác 0,1 mm) và đếm cấu trúc vảy dưới kính hiển vi điện tử Leica S6E; so sánh dữ liệu hình thái với các khóa định loại và tài liệu chuyên khảo của Smith (1943), Ziegler và cs. (2007), Nguyễn Văn Sáng (2007), David và cs. (2011), Hecht và cs. (2013), Luu và cs. (2013), Ziegler và cs. (2017).

Nội dung chính theo từng chương

Chapter I: Introduction

Chương mở đầu trình bày tổng quan về tầm quan trọng của phân bộ Rắn trong hệ sinh thái toàn cầu và hiện trạng suy giảm quần thể do xung đột với con người. Tác giả nhấn mạnh tính cấp thiết của việc cập nhật dữ liệu đa dạng sinh học tại VQG Ba Vì – nơi có vị trí địa lý đặc biệt tiếp giáp Thủ đô nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện về khu hệ rắn trong suốt một thập kỷ.

Chapter II: Literature Review

Tổng quan tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về tiến trình nghiên cứu khu hệ rắn:

  • Đa dạng rắn tại Đông Nam Á (2010–2019): Trong giai đoạn 2010–2019, số loài rắn tăng lên ở nhiều quốc gia; Việt Nam và Indonesia ghi nhận mức tăng số loài mới cao nhất khu vực (Việt Nam tăng thêm 21 loài, đạt 244 loài; Indonesia tăng 20 loài, đạt 360 loài).
  • Nghiên cứu khu hệ rắn tại Việt Nam: Tác giả hệ thống hóa các mốc công bố số lượng loài rắn tại Việt Nam (từ 172 loài năm 2005 lên 192 loài năm 2009 và 244 loài năm 2019). Chương này lập danh mục chi tiết 21 loài rắn mới được mô tả tại Việt Nam trong giai đoạn 2010–2019, tiêu biểu như Calamaria concolor (2010), Opisthotropis cucae (2011), Azemiops kharini (2013), Parafimbrios lao (2015), Achalinus juliani (2019), Lycodon namdongensis (2019)... đồng thời điểm lại các nghiên cứu khu hệ tại Phong Nha - Kẻ Bàng, Sơn La, Vân Long, Xuân Liên, Tràng An, Yên Bái và Hòa Bình.

Chapter III: Goal, Objectives, and Research Methods

Chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên của VQG Ba Vì (diện tích, tọa độ, địa hình hai dãy núi chính có độ dốc trung bình 25° đến 35°, khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với lượng mưa 2.500 mm/năm và độ ẩm 86,1%). Chương này cũng cung cấp dữ liệu cơ sở về đa dạng động vật có xương sống (342 loài) và thực vật (1.201 loài) đã được ghi nhận trước đó, đồng thời chuẩn hóa toàn bộ quy trình khảo sát tuyến, biểu mẫu ghi chép thực địa, ký hiệu hình thái học và phương pháp phân tích số liệu.

Chapter IV: Results and Discussions

Chương kết quả và thảo luận trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ thực địa:

  • Thành phần loài: Thu thập 22 mẫu vật, định danh được 20 loài thuộc 23 chi và 6 họ. Kết hợp với ghi nhận của Nguyễn và cs. (2009), nâng tổng số loài rắn tại VQG Ba Vì lên 39 loài.
  • Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì: Mô tả chi tiết hình thái, màu sắc sống, sinh thái học và phân bố của 9 loài mới bổ sung cho danh lục VQG Ba Vì.
  • Phát hiện khoa học mới: Ghi nhận dẫn liệu khoa học đầu tiên về tập tính thức ăn của loài Rắn lệch đầu kinh tuyến (Lycodon meridionalis).
  • Phân bố sinh thái: Phân tích chi tiết sự phân bố của các loài theo 4 đai cao, 2 dạng sinh cảnh vĩ mô và 5 dạng vi sinh cảnh.
  • Bảo tồn và nguy cơ: Lập danh mục 6 loài nguy cấp, phân tích các tác động tiêu cực từ phát triển hạ tầng du lịch và đề xuất giải pháp quản lý.

Kết quả và đóng góp

1. Thành phần loài và các ghi nhận mới

Khóa luận đã định danh 20 loài rắn thuộc 6 họ tại VQG Ba Vì. Trong đó, họ Chiêu liêu / Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế tuyệt đối với 28 loài thuộc 13 chi (chiếm đa số thành phần loài khu hệ), tiếp đến là họ Rắn hổ (Elapidae) với 4 loài (4 chi), họ Rắn lục (Viperidae) với 3 loài (3 chi), họ Rắn hổ mây (Pareidae) với 2 loài (1 chi), họ Pseudoxenodontidae với 1 loài (1 chi) và họ Homalopsidae với 1 loài (1 chi).

STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Họ Ghi nhận tại nghiên cứu
1 Boiga guangxiensis Rắn rào quảng tây Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
2 Gonyosoma prasinum Rắn sọc xanh Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
3 Hebius boulengeri Rắn sãi bâu-len-giơ Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
4 Hebius chapaensis Rắn bình mũi sa pa Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
5 Lycodon futsingensis Rắn khuyết fut-sing Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
6 Lycodon ruhstrati abditus Rắn khuyết đốm Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
7 Opisthotropis lateralis Rắn trán bên Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
8 Sinonatrix percarinata Rắn hoa cân vằn đen Colubridae Ghi nhận mới cho VQG Ba Vì
9 Pareas hamptoni Rắn hổ mây ham-tơn Pareidae Ghi nhận mới cho Ba Vì và Hà Nội

Đặc điểm chi tiết của 9 loài mới bổ sung:

  • Boiga guangxiensis: 1 con cái trưởng thành (SVL 1290 mm, TaL 435 mm), vảy lưng 23–21–15 trơn nhẵn, 270 vảy bụng, 145 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp lúc 20:09 trên mặt đất gần đường du lịch.
  • Gonyosoma prasinum: 1 con cái trưởng thành (SVL 820 mm, TaL 330 mm), vảy lưng 21–19–15 có gờ, 197 vảy bụng, vảy hậu môn phân chia, 106 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp trên tường phế tích Nhà thờ Pháp cổ.
  • Hebius boulengeri: 1 con cái trưởng thành (SVL 410 mm, TaL 150 mm), vảy lưng 19–19–17 có gờ mạnh (trừ hàng ngoài cùng trơn nhẵn), 146 vảy bụng, 60 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp trên nền đất rừng tự nhiên.
  • Hebius chapaensis: 1 con cái trưởng thành (SVL 440 mm, TaL 140 mm), vảy lưng 17–17–17 gờ mờ, 170 vảy bụng, 70 vảy dưới đuôi. Bắt gặp tại suối lúc đang bị một con cua kẹp giữ.
  • Lycodon futsingensis: 3 con đực trưởng thành (SVL 580–680 mm, TaL 120–160 mm), vảy lưng 17–17–15 trơn nhẵn, 195–204 vảy bụng, vảy hậu môn đơn, 45–79 vảy dưới đuôi. Bắt gặp trên mặt đất rừng tự nhiên và rừng chuối.
  • Lycodon ruhstrati abditus: 1 con đực trưởng thành (SVL 696 mm, TaL 190 mm, TL 886 mm), vảy lưng 17–17–15 có gờ, 229 vảy bụng, vảy hậu môn đơn, 100 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp lúc 21:18 trong bụi rậm cạnh lối mòn rừng thứ sinh xen nứa.
  • Opisthotropis lateralis: 1 con đực trưởng thành (SVL 470 mm, TaL 85 mm), vảy lưng 17–17–17 có gờ, 182 vảy bụng, 50 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp ở suối ban đêm sau cơn mưa lớn.
  • Sinonatrix percarinata: 1 con cái trưởng thành (SVL 565 mm, TaL 215 mm), lưng màu ô liu xám có 31 vạch hình chữ Y, vảy lưng 19–19–17 có gờ, 141 vảy bụng, 81 vảy dưới đuôi. Bắt gặp lúc 22:12 dưới suối.
  • Pareas hamptoni: 2 cá thể (SVL 453–480 mm, TaL 141–160 mm), thân dẹp bên rõ rệt, không có rãnh cằm, vảy lưng 15–15–15 (trơn ở con đực, gờ mờ ở con cái), 188–189 vảy bụng, 89–100 vảy dưới đuôi phân chia. Bắt gặp trên mặt đường khi trời mưa to và bên mép đường.

2. Đóng góp khoa học mới về tập tính

Vào lúc 20:38 ngày 28/07/2018 tại phế tích Nhà thờ Pháp cổ (độ cao 800 m), nghiên cứu ghi nhận và can thiệp thu mẫu một cá thể cái trưởng thành Lycodon meridionalis (chiều dài cơ thể 205,0 cm) đang nuốt đầu và quấn hai vòng siết một cá thể thằn lằn gai đực trưởng thành Acanthosaura lepidogaster trên cành cây cách mặt đất 1,5 m. Đây là dẫn liệu thực địa đầu tiên về thành phần thức ăn của loài Lycodon meridionalis được công bố trên tạp chí chuyên ngành Herpetological Review (Luu và cs.).

3. Đặc điểm phân bố sinh thái học

Phân bố theo đai cao:

  • Đai 400–600 m: Ghi nhận 7 loài (thuộc 3 họ, 6 chi), gồm Sinomicrurus macclellandi, Opisthotropis lateralis, Hebius chapaensis, Pareas hamptoni, Sinonatrix percarinata, Calamaria septentrionalis, Pareas margaritophorus.
  • Đai 600–800 m: Ghi nhận 4 loài (thuộc 2 họ, 3 chi), gồm Lycodon futsingensis, Lycodon ruhstrati abditus, Pareas hamptoni, Sinonatrix percarinata.
  • Đai 800–1.000 m: Ghi nhận 8 loài (thuộc 2 họ, 7 chi), gồm Boiga guangxiensis, Lycodon futsingensis, Lycodon meridionalis, Hebius boulengeri, Gonyosoma prasinum, Ptyas multicinctus, Pareas hamptoni, Rhabdophis subminiatus.
  • Đai 1.000–1.200 m: Ghi nhận 3 loài (thuộc 3 họ, 3 chi), gồm Lycodon futsingensis, Pseudoxenodon bambusicola, Trimeresurus albolabris.
  • Theo phân chia của Bain & Hurley (2011), số loài phân bố ở đai dưới 800 m và trên 800 m bằng nhau (mỗi đai có 11 loài). Hai loài có biên độ phân bố rộng ở cả hai dải đai cao là Pareas hamptoni và Lycodon futsingensis. Họ Colubridae phân bố rộng nhất ở tất cả các đai cao.

Phân bố theo sinh cảnh và vi sinh cảnh:

  • Sinh cảnh vĩ mô: Rừng tự nhiên là sinh cảnh tập trung nhiều loài nhất với 14 loài thuộc 10 chi; sinh cảnh Suối ghi nhận 3 loài thuộc 3 chi (Sinonatrix percarinata, Opisthotropis lateralis, Hebius chapaensis).
  • Vi sinh cảnh: 8 loài bắt gặp trên mặt đất (on the ground), 5 loài trên cây (on the tree), 3 loài dưới suối (under the stream), 1 loài trên tường (on the wall - Gonyosoma prasinum), và 5 loài bắt gặp trên đường giao thông (road - trong đó 3 loài bị xe cán chết và 2 loài bò qua đường). Loài Pareas hamptoni có mặt ở 3 dạng vi sinh cảnh (trên đường, mặt đất và trên cây).

4. Đánh giá giá trị bảo tồn và hiện trạng đe dọa

Nghiên cứu ghi nhận 6 loài rắn thuộc diện bị đe dọa cần ưu tiên bảo tồn:

STT Tên khoa học Tên tiếng Việt IUCN (2019) Sách Đỏ VN (2007) Nghị định 06/2019/NĐ-CP
1 Coelognathus radiatus Rắn sọc dưa - EN -
2 Gonyosoma prasinum Rắn sọc xanh - VU -
3 Ptyas korros Rắn ráo thường - EN -
4 Bungarus fasciatus Rắn cạp nong - EN -
5 Naja atra Rắn hổ mang Trung Quốc VU EN Nhóm IIB
6 Ophiophagus hannah Rắn hổ chúa VU CR Nhóm IB

Các mối đe dọa chính:

  • Tại khu vực nghiên cứu không phát hiện các vụ việc phá rừng, khai thác gỗ quy mô lớn hoặc chăn thả gia súc gia cầm.
  • Đe dọa lớn nhất xuất phát từ hoạt động phát triển du lịch và mở rộng tuyến giao thông độc đạo chạy từ cổng Vườn lên độ cao 1.100 m (cùng các nhánh rẽ vào Vườn xương rồng 400 m, Ba Vì resort 600 m, khu cắm trại Pháp 600–700 m, Nhà thờ cổ 800 m, đền Thượng 1.100 m, đền Bác Hồ 1.227 m).
  • Việc mở rộng mặt đường nhựa làm chia cắt và phân mảnh sinh cảnh, buộc rắn phải di chuyển qua đường tìm kiếm thức ăn, dẫn đến hiện tượng tử vong do phương tiện giao thông đè bẹp (Road Kill), như trường hợp ghi nhận cá thể rắn hổ chúa con và các loài rắn nhỏ khác bị cán chết tại khu vực độ cao 400 m. Ngoài ra, rác thải và nước thải du lịch cũng gây ô nhiễm môi trường sống.

Giải pháp đề xuất:

  • Quản lý và kiểm soát chặt chẽ hoạt động xây dựng, mở rộng đường giao thông; cắm biển cảnh báo hạn chế tốc độ tại các đoạn đường có động vật hoang dã hay băng qua để giảm thiểu tai nạn giao thông.
  • Bảo vệ nguyên vẹn các sinh cảnh rừng tự nhiên và hệ thống suối; thu gom, xử lý triệt để rác thải và nước thải tại các điểm du lịch, cắm trại.
  • Tăng cường tuần tra, ngăn chặn tình trạng săn bắt trái phép và đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục môi trường cho du khách tại Trung tâm Giáo dục Môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra thực địa chủ yếu tập trung dọc theo các tuyến đường giao thông chính và đường mòn du lịch từ độ cao 400 m đến 1.200 m vào khung giờ ban đêm (19:00 - 23:00); các khu vực rừng sâu hẻo lánh, vách đá dựng đứng chưa được khảo sát đầy đủ do khó khăn về địa hình hiểm trở.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng các tuyến điều tra vào sâu trong vùng lõi và các sườn núi phía Tây, Tây Nam của VQG Ba Vì; tiến hành điều tra bổ sung vào ban ngày để ghi nhận các loài rắn hoạt động nhật hành; thực hiện nghiên cứu sinh học phân tử (DNA) từ các mẫu mô đã thu thập để làm rõ mối quan hệ phát sinh loài đối với các nhóm phân loại phức tạp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Quản lý Rừng, Lâm học, Sinh học thực nghiệm và Động vật học (chuyên ngành Bò sát - Ếch nhái).
  • Giá trị học thuật và thực tiễn:
    • Cung cấp bộ số liệu hình thái chuẩn mực (vảy đầu, vảy thân, tỷ lệ đo đạc) của 9 loài rắn mới ghi nhận tại miền Bắc Việt Nam, có giá trị so sánh hình thái cao.
    • Quy trình thực địa chi tiết về phương pháp điều tra tuyến, kỹ thuật thu bắt an toàn đối với rắn độc, phương pháp cố định và lưu giữ mẫu vật sinh học chuẩn bảo tàng.
    • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy giúp Ban quản lý VQG Ba Vì xây dựng kế hoạch quản lý môi trường và giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học thích ứng với hoạt động du lịch sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã bổ sung bao nhiêu loài rắn mới cho danh lục Vườn Quốc gia Ba Vì? Khóa luận đã phát hiện và mô tả bổ sung 9 loài rắn mới cho VQG Ba Vì gồm: Boiga guangxiensis (Rắn rào quảng tây), Gonyosoma prasinum (Rắn sọc xanh), Hebius boulengeri (Rắn sãi bâu-len-giơ), Hebius chapaensis (Rắn bình mũi sa pa), Lycodon futsingensis (Rắn khuyết fut-sing), Lycodon ruhstrati abditus (Rắn khuyết đốm), Opisthotropis lateralis (Rắn trán bên), Sinonatrix percarinata (Rắn hoa cân vằn đen), và Pareas hamptoni (Rắn hổ mây ham-tơn - đồng thời là ghi nhận đầu tiên cho thành phố Hà Nội).

2. Tổng số loài rắn ghi nhận tại VQG Ba Vì sau nghiên cứu này là bao nhiêu? Nghiên cứu đã thu thập 22 mẫu vật, định danh được 20 loài. Khi kết hợp với các dẫn liệu trước đó của Nguyễn và cộng sự (2009), tổng số loài rắn được ghi nhận tại VQG Ba Vì đã tăng từ 30 loài lên 39 loài, thuộc 23 chi và 6 họ.

3. Đóng góp khoa học mới về tập tính thức ăn của loài rắn nào được ghi nhận trong nghiên cứu? Nghiên cứu đã ghi nhận dẫn liệu thực địa đầu tiên cho khoa học về tập tính dinh dưỡng của loài Rắn lệch đầu kinh tuyến (Lycodon meridionalis), khi quan sát một cá thể cái trưởng thành đang siết mồi và nuốt cá thể thằn lằn gai đực (Acanthosaura lepidogaster) trên cành cây ở độ cao 800 m tại phế tích Nhà thờ Pháp cổ.

4. Những loài rắn nguy cấp, quý hiếm nào tại Ba Vì được xếp vào danh mục ưu tiên bảo tồn? Nghiên cứu ghi nhận 6 loài có giá trị bảo tồn: 2 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN 2019 ở cấp VU (Naja atra, Ophiophagus hannah); 6 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (Coelognathus radiatus - EN, Gonyosoma prasinum - VU, Ptyas korros - EN, Bungarus fasciatus - EN, Naja atra - EN, Ophiophagus hannah - CR); và 2 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Naja atra thuộc Nhóm IIB, Ophiophagus hannah thuộc Nhóm IB).

5. Mối đe dọa chính đối với khu hệ rắn tại VQG Ba Vì được xác định là gì? Mối đe dọa lớn nhất không phải là phá rừng hay săn bắt ồ ạt, mà là việc xây dựng mở rộng đường giao thông và các hoạt động du lịch dã ngoại làm chia cắt sinh cảnh sống, dẫn đến hiện tượng rắn bị các phương tiện giao thông chèn chết (Road Kill) khi di chuyển qua đường, cùng với ô nhiễm rác thải và nước thải từ du khách.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Sỹ Tường đã cung cấp dẫn liệu khoa học toàn diện và cập nhật về thành phần loài, cấu trúc phân loại học và đặc điểm phân bố sinh thái của khu hệ rắn tại Vườn Quốc gia Ba Vì. Nghiên cứu đã bổ sung 9 loài mới cho danh lục VQG Ba Vì, nâng tổng số loài rắn lên 39 loài, đồng thời công bố phát hiện mới về tập tính dinh dưỡng của loài Lycodon meridionalis. Các phân tích về tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch và giao thông đường bộ mang lại cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học bò sát tại Vườn Quốc gia Ba Vì.