phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Khái quát cơ sở lý luận, tộc người và địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2. Du lịch sinh thái dựa vào tiềm năng văn hóa tộc người Tày ở Pác Ngòi Chƣơng 3. Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa tộc người Tày ở Pác Ngòi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỘC NGƢỜI VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát cơ sở lý luận về Du lịch và Du lịch sinh thái 1. Quan điểm của Đảng Nhà nước về Du lịch và Du lịch sinh thái Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hƣớng chiến lƣợc quan trọng để phát triển đất nƣớc, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, nhƣng không nhất thiết địa phƣơng nào cũng xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, có thƣơng hiệu và khả năng cạnh tranh cao ; xã hội hóa cao và có nội dung văn hóa sâu sắc; tăng cƣờng liên kết trong nƣớc và quốc tế, chú trọng liên kết giữa ngành Du lịch với các ngành, lĩnh vực khác trong chuỗi giá trị hình thành nên các sản phẩm du lịch. Phát triển đồng thời cả du lịch quốc tế và du lịch nội địa; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và du khách quốc tế tham quan, tìm hiểu, khám phá cảnh quan, di sản thiên nhiên và văn hóa của đất nƣớc; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch từ tất cả các thị trƣờng.
Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trƣờng và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cƣ, sự quản lý thống nhất của Nhà nƣớc; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các khái niệm cơ bản ịch Du lịch đƣợc hiểu là một kỳ nghỉ hay một chuyến đi, mục đích của du lịch phục vụ nhu cầu hiểu biết, vui chơi, giải trí, nâng cao sức khỏe của du khách trên cơ sở thay đổi môi trƣờng sống, thƣởng thức và hòa nhập với vẻ đẹp của thiên nhiên, con ngƣời.
Trong xu thế hiện nay, du lịch đƣợc định nghĩa bao hàm các nội dung liên quan đến dạng chuyển cƣ đặc biệt, cách thức sử dụng thời gian tại nơi đến và các hoạt động kinh tế xã hội liên quan.Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch: Theo Mathieson và Wall “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của ngƣời dân đến những nơi ngƣời ngoài khu vực cƣ trú và làm việc thƣờng xuyên của họ, các hoạt động đƣợc thực hiện trong thời gian lƣu trú tại những nơi đó và các tiện nghi đƣợc sinh ra nhằm thỏa mãn nhu cầu họ”. [Trích 72] Theo Liên hiệp quốc (1963) định nghĩa về du lịch nhƣ sau: "Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ". Theo luật du lịch Việt Nam (2005):”Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
[67] Từ các quan điểm, định nghĩa trên cho thấy khái niệm du lịch hàm chứa những nội dung cơ bản sau: - Là sự di chuyển và cư trú tạm thời ngoài nơi thường trú thường xuyên trong thời gian rỗi của khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ. - Cùng với mục đích du lịch là việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,kinh tế,văn hóa và dịch vụ ở nơi đến của du khách. - Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế có liên quan đến khách du lịch. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ịch sinh thái Theo Luật du Lịch Việt Nam (2005), du lịch sinh thái đƣợc quan niệm: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.
Các hoạt động đặc trƣng chủ yếu của du lịch sinh thái bao gồm: Đi bộ (trên cạn), lặn (dƣới nƣớc) tiếp cận quan sát các hệ sinh thái đặc thù; Quan sát, chụp ảnh các loài động thực vật quý hiến, đặc hữu, các cảnh quan đặc sắc, các sinh hoạt văn hóa bản địa; Nghe thuyết minh, Trao đổi với hƣớng dẫn viên, cộng đồng về các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa; Lƣu trú. Có thể thấy du lịch sinh thái đƣợc coi là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một số loại hình du lịch, đó là sự kết hợp của cả du lịch tự nhiên và du lịch mạo hiểm và bao hàm cả các yếu tố trong du lịch bền vững nhƣ: mang tính giáo dục cao, hỗ trợ bảo tồn và quan tâm tới cộng đồng, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng. ự nhiên Là hệ thống các yếu tố tự nhiên và nhân tạo với 2 thành phần chính là quần xã sinh vật và môi trƣờng vô sinh mà ở đó sinh vật hoạt động sống. Các sinh vật này tác động với nhau và đồng thời tác động lên môi trƣờng xung quanh tạo ra các vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lƣợng xuyên qua các bậc vật chất.
Cấu trúc sinh thái tự nhiên Là tập hợp các nhân tố tạo nên môi trƣờng sống của cộng đồng, thể hiện mối quan hệ tƣơng tác giữa cộng đồng và sinh thái tự nhiên trong các hoạt động sống của con ngƣời. Nhƣ vậy, sinh thái nhân văn miền núi, hệ thống kinh tế - văn hóa – xã hội luôn mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phƣơng. Trong một hệ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh thái nhân văn yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, nƣơng tựa vào nhau. Đây là đặc điểm quan trọng cần đƣợc quan tâm hàng đầu trong quá trình giải quyết các vấn đề về môi trƣờng, nghèo đói, thiên tai, dịch bệnh, và phát triển bền vững.
ộc người Tộc ngƣời (ethnic) - theo thuật ngữ thƣờng dùng - là một cộng đồng ngƣời đƣợc hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung đặc điểm tƣơng đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa tạo thành một tính cách tộc ngƣời và đặc biệt là cùng có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời, đƣợc thể hiện ở tên tự gọi. Tộc ngƣời theo nghĩa rộng là một nhóm cá nhân liên kết với nhau bởi một tính chất chủng – về mặt nhân chủng – ngôn ngữ - chính trị - lịch sử,… và sự kết hợp đó làm một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa là chủ yếu; một nền văn hóa. Nhƣ thế, tộc ngƣời đƣợc coi là một tập thể, hay đúng hơn là một cộng đồng gắn bó với nhau bởi một nền văn hóa riêng1. Tộc ngƣời theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con ngƣời đƣợc hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dƣới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tƣơng đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng nhƣ sự khác nhau giữa họ với các tộc ngƣời khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc ngƣời)2.
Trong khi đó,PGS.TS Lê Sĩ Giáo,PGS.TS Hoàng Lƣơng,PGS.TS Lâm Bá Nam, PGS.TS Lê Ngọc Thắng nhấn mạnh: Tộc ngƣời là hình thức đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con ngƣời mà là kết quả trong quá trình tự nhiên – lịch sử3.Bredon, Các tộc ngƣời,(les Ethnies, Presses Univer Sitaires de France, Paris – 1980) trong Nghiêm Văn Thái (chủ biên), Tộc ngƣời và xung đột – tộc ngƣời trên thế giới hiện nay, Nxb Thông tin Khoa học xã hội, H 2001, tr 163-166. 2 Trần Long, Văn hóa tộc ngƣời, ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP. Lê Sĩ Giáo (chủ biên) – PGS. Hoàng Lƣơng – PGS.TS Lâm Bá Nam – PGS.
Lê Ngọc Thắng, Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo dục (tái bản lần thứ 3),1999,tr8. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Văn hóa tộc người Văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc ngƣời bao gồm tri thức, tín ngƣỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt … là sự thể hiện bản chất năng lực con ngƣời với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội. “Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”4. Nghiên cứu văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc ngƣời cần phải xem xét trên cả trục đồng đại và lịch đại.
Với sự liệt kê đầy đủ danh mục các hiện tƣợng văn hóa của một tộc ngƣời cho phép chúng ta có những nhận định sơ bộ về văn hóa tộc ngƣời cũng nhƣ bản sắc văn hoá tộc ngƣời. “Khi nói đến văn hóa tộc người là nói đến những khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạo nên những nét khác biệt với văn hóa các tộc người khác”5. Cũng cần thấy rằng văn hoá tộc ngƣời là một thực thể đa dạng và thống nhất. “Nếu coi thống nhất của văn hóa từ đa dạng, thì muốn củng cố sự thống nhất ấy, phải trên cơ sở bảo tồn và phát triển tính đa dạng của văn hóa, mà ở đây thể hiện rõ nhất là đa dạng văn hóa tộc ngƣời và văn hóa địa phƣơng (văn hóa vùng).
Sẽ không có sự thống nhất văn hóa nào vững chắc và lành mạnh lại dựa trên cơ sở thuần nhất hóa hay đơn nhất hóa văn hóa”6. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tƣợng phổ quát của các tộc ngƣời.