CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT DỰ BÁO 1. Các nội dung cơ bản về dự báo 1. Khái niệm cơ bản về dự báo Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được. Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học.
Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai và để dự báo được chính xác hơn, người ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự báo. Dự báo có thể được xem như một tập hợp các công cụ giúp người ta quyết định thực hiện các phán đoán tốt nhất có thể có về các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai. Dù các định nghĩa có sự khác biệt nào đó, nhưng đều thống nhất cơ bản “dự báo” là bàn về tương lai và nói về tương lai. Ngày nay, dự báo là một nhu cầu không thể thiếu được của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật và được tất cả các ngành khoa học quan tâm nghiên cứu.
Vai trò và ý nghĩa của dự báo a. Vai trò của dự báo Vai trò của dự báo nhu cầu có tác dụng rất to lớn, nó liên quan đến quản lý kinh tế nói chung và quy hoạch hệ thống điện nói riêng. Dự báo và quy hoạch là hai giai đoạn liên kết chặt chẽ với nhau của một quá trình quản lý. Trong mối quan hệ ấy, phần dự báo sẽ góp phần giải quyết vấn đề cơ bản sau: - Xác định xu thế phát triển của nhu cầu điện năng.
- Đề xuất những yếu tố cụ thể. - Xác định quy luật và đặc điểm của sự phát triển của nhu cầu điện năng. Trên cơ sở định hướng phát triển ngành điện, người ta xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống điện cho từng giai đoạn 5 năm có xét đến triển vọng 10 - 15 năm sau. Nếu công tác dự báo nói chung mà dựa trên lập luận khoa học thì sẽ trở thành cơ sở để xây dựng các kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân.
Đặc biệt đối 1 với ngành năng lượng, tác dụng của dự báo còn có ý nghĩa quan trọng, vì điện năng liên quan chặt chẽ với tất cả các ngành kinh tế quốc dân, cũng như đến mọi sinh hoạt bình thường của người dân. Do đó, nếu dự báo không chính xác sai lệch quá nhiều về khả năng cung cấp, về nhu cầu điện năng thì sẽ dẫn đến hậu quả không tốt cho nền kinh tế. Chẳng hạn, nếu chúng ta dự báo phụ tải quá thừa so với nhu cầu sử dụng dẫn đến hậu quả là huy động nguồn quá lớn, làm tăng vốn đầu tư, có thể gây tổn thất điện năng tăng lên. Ngược lại, nếu chúng ta dự báo phụ tải quá thấp so với nhu cầu thì sẽ không đủ điện năng cung cấp cho các hộ tiêu thụ và tất nhiên sẽ dẫn đến việc cắt bỏ một số phụ tải một cách không có kế hoạch gây thiệt hạn nền kinh tế quốc dân.
Ý nghĩa của dự báo Qua đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra các kế hoạch và các quyết định cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư, quảng bá, quy mô sản xuất, kênh phân phối sản phẩm, nguồn cung cấp tài chính. và chuẩn bị đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự phát triển trong thời gian tới (kế hoạch cung cấp các yếu tố đầu vào như: Lao động, Nguyên vật liệu, Tư liệu lao động, cũng như các yếu tố đầu ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ). Trong các doanh nghiệp nếu công tác dự báo được thực hiện một cách nghiêm túc còn tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Dự báo chính xác sẽ giảm bớt mức độ rủi ro cho doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Dự báo chính xác là căn cứ để các nhà hoạch định các chính sách phát triển kinh tế văn hoá xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhờ có dự báo các chính sách kinh tế, các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế được xây dựng có cơ sở khoa học và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhờ có dự báo thường xuyên và kịp thời, các nhà quản trị doanh nghiệp có khả năng kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh các hoạt động kinh tế của đơn vị mình nhằm thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất. Sự cần thiết của dự báo Không có dự báo, chúng ta không có cơ sở để lên kế hoạch trong tương lai.
Dự báo có một vai trò quan trong trong công tác nghiên cứu các xu thế có thể xẩy ra ở cấp vĩ mô và vi mô của nên kinh tế nhằm đạt được tính tối ưu trong quá trình phát triển. Ở các nước phát triển, hàng năm chi một khoản tiền tương đối lớn (nhiều hơn so với các nước đang phát triển) cho công tác dự báo nói chung và nhu cầu điện nói riêng. Họ cũng thực hiện các dự báo về: phát triển kinh tế-xã hội, nhu cầu điện năng và năng lượng,… để làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành điện,… nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Đối với ngành điện, tác dụng của dự báo càng có ý nghĩa quan trọng, vì điện năng liên quan chặt chẽ đến tất cả các ngành kinh tế quốc dân cũng như đời sống nhân dân.
Dự báo không chính xác, sai lệch quá nhiều về khả năng cung cấp hoặc về nhu cầu điện năng sẽ dẫn đến hậu quả không tốt cho nền kinh tế. Nếu chúng ta dự báo phụ tải quá thừa so với nhu cầu sử dụng thì hậu quả là phải huy động nguồn lớn hơn mức cần thiết dẫn đến tăng vốn đầu tư. Ngược lại nếu dự báo phụ tải quá thấp so với nhu cầu thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu cho các hộ tiêu thụ điện và làm thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân. Các nguyên tắc của dự báo Trong quá trình thực hiện dự báo, người làm công tác dự báo cần tuân thủ 5 nguyên tắc dự báo cơ bản sau [1]: Tính quan hệ nhân quả: Thông thường nhu cầu điện, năng lượng sẽ phụ thuộc vào một số nhân tố cơ bản như: Tăng trưởng GDP, dân số, mức độ hoạt động của các ngành liên quan,.
tính đến mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế xã hội với các lĩnh vực khác như chính trị, pháp luật và xem xét các vấn đề trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, tính đến sự phụ thuộc lẫn nhau của các mặt nghiên cứu. Từ đó, sử dụng các tương quan đó để làm cơ sở cho công việc dự báo. Ví dụ : y = f (X j); X dân số, GDP, thu nhập Tính lặp lại: Nguyên tắc này liên quan tới tính khách quan của quá trình dự báo. Dự báo phải làm cho người khác có thể hiểu được và làm lại được.
Việc sử 3 dụng các biểu diễn toán học để dự báo sẽ nâng cao được tính lặp lại của phương pháp dự báo. Tính thiết thực: Dự báo phải được xây dựng sao cho phù hợp với quyết định sắp tới. Ví dụ: nếu quyết định liên quan đến lịch trình bảo trì đối với các nhà máy hiện có thì phạm vi dự báo phải là 1 năm, được chia thành các khoảng thời gian theo tháng (có thể là hàng tuần). Nếu như quyết định liên quan đến việc xây dựng nhà máy điện thì dự báo phải tập trung vào sự gia tăng nhu cầu hàng năm ít nhất là đối với thời gian để xây dựng nhà máy (có thể là vài năm, hoặc là 10 năm).
Kiểm tra độ nhạy: Phần lớn các phương pháp dự báo đều được dựa trên các giả thuyết về tương lai, như về GDP, dân số, tình hình phát triển khoa học & công nghệ,… Vì thế có nhiều bất định trong quá trình dự báo, nên cần sử dụng các kịch bản để khắc phục nhược điểm này. Vì vậy, ta phải kiểm tra độ nhạy. Duy trì tính đơn giản: Một phương pháp đơn giản được sử dụng để dự báo thì sẽ tiêu tốn ít nguồn lực (thời gian, tiền) và cũng dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, độ chính xác của kết quả cũng ở mức vừa phải.
Người sử dụng phải cân nhắc các nguyên tắc khác của dự báo để lựa chọn phương pháp dự báo sao cho vừa dễ áp dụng và phù hợp với chi phí được cấp, mà đạt được độ tin cậy/chính xác theo yêu cầu. Các bước dự báo Hình 1.1: Sơ đồ các bước dự báo Bước 1: Xác định mục tiêu dự báo Cần phải đưa ra các mục tiêu, quyết định có liên quan đến việc cần phải dự báo. Người sử dụng và người làm dự báo có cơ hội thảo luận các mục tiêu và kết quả dự báo sẽ được sử dụng như thế nào thì kết quả dự báo sẽ có ý nghĩa quan trọng. Bước 2: Xác định biến độc lập, giả thiết mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Cần phải phân tích những biến có ảnh hưởng tới đối tượng dự báo để lựa chọn được những biến có ảnh hưởng mạnh nhất tới đối tượng dự báo thì kết quả dự báo sẽ có sai số nhỏ.
Ta phải giả thiết được mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ 5 thuộc có quan hệ cùng chiều hay ngược chiều để đánh giá mô hình có phù hợp với lý thuyết kinh tế không. Bước 3: Nghiên cứu và phân tích dữ liệu đã thu thập được theo thời gian của các biến - Dữ liệu thường được tổng hợp theo cả biến và thời gian, nhưng tốt nhất là thu thập dữ liệu chưa được tổng hợp. - Cần trao đổi giữa người sử dụng và người làm dự báo để có sự thống nhất về bảng dữ liệu đã thu thập được. - Phân tích số liệu để có hướng dự báo tốt nhất.
Bước 4: Lựa chọn và xây dựng mô hình dự báo Làm sao để quyết định được phương pháp thích hợp nhất cho một tình huống nhất định? - Loại và lượng dữ liệu thu thập. - Quy luật dữ liệu trong quá khứ. - Tính cấp thiết của dự báo. - Kiến thức chuyên môn của người làm dự báo.