Đặt vấn đề Từ những năm 1805 ty thể được các nhà khoa học phát hiện là một cấu trúc ngoài nhân tế bào (Ernster and Schatz, 1981). Sau gần 100 năm nghiên cứu kéo dài, mối liên hệ của ty thể và hô hấp tế bào được xác định và ngày nay ty thể được đánh giá là “trung tâm năng lượng của tế bào” (“Powerhouse of the Cell”). Ngoài ra, một trong những phát hiện đột phá về ty thể là việc xác định được sự tồn tại của vật liệu di truyền ty thể vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Từ đó đến nay, các nghiên cứu trong lĩnh vực ty thể đã phát triển mạnh từ giải trình tự hệ gen ty thể, nghiên cứu chức năng cơ bản của ty thể và những bệnh liên quan tới rối loạn chức năng ty thể.
Tầm ảnh hưởng của ty thể tới sự phát triển bệnh ung thư ngày càng được giới nghiên cứu công nhận. Các đột biến của mtDNA (Mitochondrial Deoxyribonucleic) đã được phát hiện ở các bệnh ung thư như ung thư bàng quang, ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư cổ và đầu, ung thư thận, gan, phổi, dạ dày và ung thư máu ác tính. Quan trọng hơn, vùng D-loop (displacement loop) của hệ gen ty thể lại là nơi có tần suất đột biến cao, đặc biệt là tại các vùng siêu biến như HV1 (hypervariable regions). Vì vậy đột biến tại vùng D-loop tiềm ẩn nhiều mối liên quan tới phát triển ung thư.
Ung thư phổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là bệnh phổ biến và nguy hiểm trong tất cả các loại ung thư. Đây là bệnh có tiên lượng xấu bởi tiến triển nhanh, di căn sớm, phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn. Ung thư phổi thường không có triệu chứng đặc biệt và có thể có các đặc điểm giống như ở các bệnh lý khác gây ra. Vì vậy việc tiến hành các chẩn đoán y học tin cậy là rất cần thiết.
Việc xác định trình tự nucleotide vùng điều khiển DNA ty thể được xem là công cụ hữu hiệu để đánh giá sự liên quan mật thiết giữa tỉ lệ đột biến vùng điều khiển gen ty thể với sự phát triển, biểu hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2 ung thư phổi. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu mối liên quan giữa đột biến trong vùng điều khiển hệ gen ty thể và bệnh ung thƣ phổi” 2. Mục tiêu Giải trình tự vùng D-loop tách chiết từ mẫu bệnh phẩm (máu) của bệnh nhân ung thư phổi tại bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội – Việt Nam và người khỏe mạnh. So sánh trình tự đoạn gen HV1 vùng D-loop với các trình tự tham khảo công bố trên ngân hàng gen và tìm điểm đột biến đặc trưng cho bệnh nhân ung thư phổi ở Việt Nam.
Đề xuất chức năng đột biến gen ty thể liên quan tới bệnh ung thư phổi. Nội dung Tách chiết DNA tổng số từ máu của bệnh nhân mắc bệnh ung thư phổi và người bình thường. Nhân đoạn gen HV1 thuộc vùng D-loop. Xác định và phân tích trình tự gen vùng HV1 của các mẫu bệnh phẩm và mẫu đối chứng.
So sánh các trình tự với trình tự chuẩn Cambridge Reference Sequence (CRS) để tìm ra điểm đột biến sai khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về ty thể Từ những năm 1805 ty thể được các nhà khoa học phát hiện là một cấu trúc ngoài nhân tế bào (Ernster and Schatz, 1981).
Tuy nhiên hơn 60 năm nghiên cứu về chức năng ty thể kể từ khi cấu trúc này được phát hiện, các nhà tế bào học mới lần đầu tiên nhận ra mối liên quan của ty thể và sự hô hấp tế bào bằng quan sát cấu trúc hình thái đơn thuần. Tiếp theo 30 – 40 năm tập trung nghiên cứu sinh hóa sau đó, ty thể được đánh giá là “trung tâm năng lượng của tế bào” (“Powerhouse of the Cell”) (Verschoor et al. Để có được kết luận này về chức năng của ty thể các nhà khoa học đã dựa trên một loạt các phát hiện mang tính sự kiện trong lĩnh vực nghiên cứu ty thể. Năm 1909, Corren và Baur độc lập phát hiện ra các trường hợp di truyền theo dòng mẹ nhưng chưa xác định được nguồn gốc và vị trí.
Các phân tích di truyền sau đó vào năm 1949 bởi Slonimski và Ephrussi đã chỉ ra rằng suy hô hấp tế bào ở nấm men có đột biến trong tế bào chất chứ không phải do đột biến gen trong nhân (Slonimski and Ephrussi, 1949). Và rất nhanh sau đó, hai tác giả này đã chứng minh được rằng suy hô hấp tế bào là do rối loạn chức năng ty thể. Dựa trên những phát hiện đầu tiên này, các phát hiện mang tính đột phá về ty thể liên tiếp được đưa ra. Một trong những phát hiện đột phá là việc xác định được sự tồn tại của vật liệu di truyền ty thể (Nass and Nass, 1963; Schatz and Klima, 1964).
Từ đó đến nay, các nghiên cứu trong lĩnh vực ty thể đã phát triển mạnh từ giải trình tự hệ gen ty thể, nghiên cứu chức năng cơ bản của ty thể cũng và những bệnh liên quan tới rối loạn chức năng ty thể. Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu về (1) cấu trúc ty thể, (2) hệ gen ty thể và di truyền gen ty thể, (3) Rối loạn cấu trúc/chức năng ty thể và các bệnh liên quan. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Cấu trúc ty thể Hình 1.
Cấu trúc ty thể Ty thể là bào quan phổ biến ở các tế bào nhân chuẩn (Hình 1. Tùy thuộc vào tế bào, ty thể có cấu trúc tổng thể khác nhau. Nhìn chung ty thể có hình hạng phổ biến là hình que hoặc bầu dục với kích thước 5 - 10 µm x 2 – 3 µm. Ty thể có cấu trúc màng kép bao gồm màng ngoài ty thể và màng trong ty thể.
Hai màng này có chức năng hoàn toàn khác biệt với nhau. Lớp màng ngoài ty thể bao trùm toàn bộ ty thể, tạo nên ranh giới ngoài của nó với tế bào chất. Lớp màng trong ty thể tạo thành các nếp gấp gọi là mào ty thể (cristae) hướng vào tâm. Mào ty thể là nơi chứa các bộ phận cần thiết cho quá trình hô hấp và tổng hợp ATP (adenosine triphosphate).
Các màng ty thể chia bào quan này thành hai khoang khác biệt nhau: “khoang chứa chất cơ bản” nằm bên trong ty thể, và “khoang liên màng” nằm giữa lớp màng ngoài và màng trong. Màng ngoài chứa các Protein tạo kênh (Porin) cho phép tất cả các phân tử < 5 kDa đi qua. Màng trong được cấu tạo phần lớn từ cardiolipin, là các nếp gấp, được gọi là mào ty thể. Lớp màng trong chỉ cho phép thấm lọc một số ion.
“Khoang liên màng ty thể” có chứa các enzyme tham gia quá trình phosphoryl hoá, oxy hoá và tổng hợp ATP. “Khoang chứa chất nền” bên trong chứa các ribosome, DNA ty thể, tRNA (transfer RNA hay tRNA) và nhiều loại enzyme cần thiết cho sự phiên mã và dịch mã hệ gen ty thể, ngoài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 ra chất nền còn có chứa các acid béo, enzyme cần thiết tham gia vào chu trình acid tricarboxylic (Cooper, 2000). Chức năng của ty thể Chức năng chính của ty thể là tạo năng lượng cho tế bào ở dạng ATP. Tế bào sử dụng loại năng lượng này để duy trì sự sống và thực hiện các chức năng của tế bào.
Các phân tử carbohydrate, chất béo và protein chuyển hóa từ thức ăn được vận chuyển vào ty thể. Thông qua quá trình oxy hóa và phosphoryl hóa, năng lượng được chuyển đổi thành ATP, một dạng năng lượng dự trữ của cơ thể. (Dahout-Gonzalez et al. Chu trình tạo ATP diễn ra trong ty thể được thể hiện tại Hình 1.
Quá trình sinh tổng hợp ATP trong ty thể Ngoài chức năng tạo năng lượng cho tế bào, ty thể còn có chức năng trong quá trình gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis). Thông thường ATP được tổng hợp sẽ được đi kèm với việc sử dụng oxy. Trong những điều kiện bất bình thường như là sốt, ung thư, đột quỵ, hoăc khi có các bất thường trong hoạt động ty thể, oxy được sử dụng nhiều hơn so với lượng oxy cần thiết để tạo ATP. Vì vậy lượng oxy trong ty thể trở nên dư thừa và vì thế tạo ra các gốc oxy hóa tự do cao (free radicals).
Khi số lượng các gốc tự do này quá cao, ty thể không còn khả năng thải loại độc tố thì chính các gốc tự do này làm thay đổi chức năng của ty thể bằng cách thay đổi cấu trúc mtDNA, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 cấu trúc protein và cấu trúc màng ty thể. Điều này dẫn tới kết quả chết tế bào theo chương trình. Khi tế bào chết một cách bất bình thường do mất chức năng ty thể thì chức năng của các cơ quan sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng (Wu et al. Ty thể còn có các chức năng chuyên biệt khác tùy thuộc vào loại tế bào mang chúng.
Ty thể tham gia vào các quá trình xây dựng, phân hủy, tái tạo các sản phẩm cần thiết cho các hoạt động của tế bào biệt hóa. Ví dụ, một số các thành phần tạo DNA và RNA được tổng hợp trong ty thể. Ty thể còn tham gia tổng hợp một phần máu và hormone như estrogen và testosterone. Ty thể cũng rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất và thải độc ammonia.
Vì vậy, nếu ty thể không hoạt động đúng chức năng, không những việc tạo năng lượng bị ảnh hưởng mà các sản phẩm phục vụ cho các chức năng tế bào chuyên biệt cũng bị ảnh hưởng (Hernandez-Resendiz et al. Hệ gen ty thể Như đã giới thiệu, ty thể có mang chất liệu di truyền (mtDNA) trong “khoang chứa chất nền”. Phần lớn các động vật có xương sống có hệ gen ty thể gồm 1000 – 5000 phân tử mtDNA dạng vòng (Goldstein và Shmookler Reis, 1984). mtDNA tập trung trong “khoang chứa chất nền” và thường gắn kết với các protein và lipid.
Ở người, hệ gen ty thể là một phân tử mtDNA sợi kép, cấu trúc vòng với kích thước 16.569 bp, mã hóa cho 13 polypeptide (Hình 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Cấu trúc hệ gen ty thể Tất cả 13 polypeptide này đều là thành phần cấu trúc của phức hệ phosphoryl hóa oxi hóa phức tạp (OXPHOS), bao gồm 7 tiểu đơn vị của phức hệ I (complex I), một tiểu đơn vị của phức hệ III (complex III), 3 tiểu đơn vị của phức hệ IV (complex IV), và hai tiểu đơn vị của phức hệ V (complex V).