Chương 1, tác giả đã giới thiệu khái quát về mục tiêu, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Trong chương 2, tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý luận cho nghiên cứu. Trên cơ sở những lý thuyết cũng như các công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới, cùng một số các nghiên cứu đã thực hiện tại Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu trong mô hình. Chương này bao gồm 05 nội dung chính: (1) Khái niệm về động lực, (2) Các lý thuyết về nhu cầu, (3) Các mô hình nghiên cứu về động lực làm việc, (4) Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết (5), Thang đo các yếu tố tạo động lực làm việc.
Định nghĩa về nhân viên Theo định nghĩa của Từ điển Oxford, nhân viên là tất cả những người làm việc cho một tổ chức cụ thể.2 Khái niệm về động lực Động lực có nguồn gốc từ từ "movere" trong tiếng Latin mà nghĩa là di chuyển, chuyển động. Động lực theo định nghĩa đề cập đến những yếu tố kích hoạt, chỉ đạo hành vi con người và làm thế nào hành vi này được duy trì để đạt được một mục tiêu cụ thể. Ngoài ra nó được hiểu là tập hợp các quá trình khơi dậy, chỉ đạo, duy trì và bồi dưỡng hành vi con người hướng tới việc đạt được các mục tiêu. Theo Mitchell (1982), "Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu".
Theo Robbins (1993), "Động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của những nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu cá nhân". Jones (1955) lập luận rằng: "Động lực có liên quan với cách thức hành vi được bắt đầu, là sự tái tạo năng lượng, duy trì, định hướng, dừng lại và những loại phản ứng chủ quan hiện diện trong tổ chức trong khi tất cả điều này đang xảy ra". Gibson, Ivancevick, Donnelly (Tổ chức: quy trình, cấu trúc, hành vi P. Kreitner (1995), Buford, Bedeian & Linder (1995), Higgins (1994) tất cả được 5 trích dẫn trong Linder (1998, p3) xác định động lực "là quá trình tâm lý nhằm tạo mục đích hành vi và phương hướng, mỗi khuynh hướng đều có một mục đích khác nhau nhằm đạt được nhu cầu cụ thể chưa được thỏa mãn".
Theo Greenberg và Baron (2000, p190), động lực có thể được chia thành ba phần chính. Phần thứ nhất hướng vào những kích thích có liên hệ với phần cứng, hay năng lượng phía sau mỗi hành động cá nhân. Mọi người được định hướng bởi mối quan tâm của họ đến việc tạo ấn tượng tốt cho người khác, làm các công việc thú vị và thành công với những công việc họ làm. Phần thứ hai đề cập đến những người lựa chọn và chỉ đạo hành vi họ thực hiện.
Và phần thứ ba liên quan đến hành vi duy trì, xác định rõ ràng việc mọi người phải mất bao nhiêu thời gian trong việc duy trì nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình. Young (2000, p1) cho rằng có nhiều định nghĩa khác nhau về động lực, tùy vào người được hỏi. Ví dụ khi hỏi một vài người trên đường phố, câu trả lời có thể là "Động lực là cái thúc đẩy chúng ta" hay "cái làm cho chúng ta làm những điều mình thích". "Vì vậy động lực là một áp lực lợi ích cá nhân đối với các cấp độ nhu cầu, định hướng, và duy trì những nỗ lực thực hiện trong công việc".
Theo Antomioni (1999, p29), "Những nỗ lực của mọi người sẵn sàng thực hiện công việc của họ phụ thuộc vào mức độ mà họ cảm nhận về nhu cầu động lực của họ sẽ được thỏa mãn. Và động lực của các cá nhân sẽ mất đi nếu họ cảm thấy có điều gì đó trong tổ chức ngăn cản họ đạt được kết quả tốt". Greenberg & Baron (2003, p190) xác định động lực "là tập hợp các quá trình khơi dậy, trực tiếp và duy trì hành vi con người hướng tới việc đạt được mục tiêu". Halepota (2005, p16) cho rằng động lực "là việc một ai đó tham gia tích cực và cam kết đạt được kết quả theo quy định", theo ông động lực là trừu tượng vì ở các thời điểm khác nhau, chiến lược khác nhau đem lại kết quả kinh doanh khác nhau và không có chiến lược duy nhất để đảm bảo kết quả kinh doanh thuận lợi cho mọi thời điểm".
Nói cách khác, động lực làm việc là lý do mà nhân viên làm việc, duy trì làm việc và đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Để đạt được mục tiêu, các cá nhân cần hiểu rõ những gì họ mong muốn đạt được, cần phải được khuyến 6 khích và có sự nhiệt tình, tự nguyện cam kết để đạt được mục tiêu. Động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được những mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng.
Như vậy, động lực thúc đẩy ngụ ý xu thế đi đến một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả được thực hiện (Trần Kim Dung, Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011). Động lực làm việc của nhân viên được xem như nội lực bẩm sinh hình thành và duy trì bởi một tập hợp các yếu tố cá nhân rất cao có thể thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể và động lực của mỗi cá nhân. Gouws (1995) chỉ ra rằng yếu tố động viên nhân viên là như nhau và góp phần hướng tới sự hài lòng (thái độ) và hiệu suất (hành vi) từ đó cung cấp các liên kết giữa các công việc của nhân viên bằng sự hài lòng và hiệu suất của nhân viên với nhau. Những nghiên cứu trước đây về động lực làm việc của nhân viên thường chú trọng đến việc thỏa mãn các nhu cầu (Mendenhall, 1995).
Có một điểm chung trong các nghiên cứu trước đây của các lý thuyết nhu cầu đều cho rằng, động lực là nguồn lực tạo ra từ sự mong muốn, khao khát của cá nhân để thỏa mãn các nhu cầu về tâm sinh lý của họ. Do đó, để xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết trong đề tài này, tác giả chủ yếu dựa trên các lý thuyết cũng như các nghiên cứu đã có về việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bartol và Martin (1998) đã chia các lý thuyết về động viên thành ba nhóm: - Thuyết nhu cầu (Needs Theories). - Thuyết nhận thức (Cognitive Theories).
- Thuyết củng cố (Reinforcement Theories).3 Các lý thuyết về nhu cầu (Needs Theories) Lý thuyết động lực dựa trên nhu cầu được dựa trên sự hiểu biết rằng động lực xuất phát từ mong muốn của một cá nhân để hoàn thành hoặc đạt được nhu cầu. Con người được thúc đẩy bởi những nhu cầu không thoả mãn, và nhu cầu thấp hơn phải được thỏa mãn trước các nhu cầu cao hơn. Tóm lại, động lực có thể được định nghĩa là mong muốn đạt được một mục tiêu, kết hợp với năng lượng, quyết tâm và cơ hội để đạt được nó. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sẽ tiến hành tìm hiểu 7 một số học thuyết nhu cầu tiêu biểu, bao gồm: - Thuyết nhu cầu của Henry Murray (1938).
- Thuyết nhu cầu theo thứ bậc của Maslow (1943). - Thuyết Hai yếu tố của Herzberg (1959). - Thuyết nhu cầu thành đạt của McClelland (1961). - Thuyết ERG của Alderfer (1972).
Thuyết nhu cầu tâm lý của Henry Murray (1938) Nhà tâm lý học người Mỹ Henry Murray đã phát triển một lý thuyết về tính cách cấu thành bởi động cơ, áp lực, và nhu cầu. Murray mô tả nhu cầu như là "tiềm năng hoặc sẵn sàng để đáp ứng bằng cách nào đó trong những hoàn cảnh nhất định". Các lý thuyết về tính cách dựa trên nhu cầu và động cơ cho thấy tính cách cá nhân là một sự phản ánh của hành vi điều khiển bởi nhu cầu. Một số nhu cầu mang tính tạm thời có thể thay đổi, một số khác là nhu cầu cơ bản.
Theo Murray, những nhu cầu tâm lý hoạt động chủ yếu trên các cấp độ vô thức, nhưng đóng một vai trò quan trọng trong tính cách. Ông phân loại nhu cầu như sau: - Nhu cầu cơ bản: dựa trên nhu cầu sinh học như khí thở, thức ăn, nước uống. - Nhu cầu thứ cấp: là nhu cầu mang tính tâm lý, như sự cần thiết để nuôi dưỡng, độc lập, và thành tích. Một số nhu cầu tâm lý: nhu cầu tham vọng; nhu cầu vật chất; nhu cầu năng lượng; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thông tin.
Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Năm 1943, Abraham Maslow đã phát triển một trong những lý thuyết đầu tiên của động lực con người, được gọi là hệ thống cấp bậc nhu cầu Maslow. Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: Nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện, khẳng định mình. Tập hợp năm nhu cầu nêu trên được chia thành hai loại: nhu cầu cơ bản (đại diện bởi thực phẩm, nước, chỗ ở, và được an toàn. cần thiết cho sự tồn tại của con người) và nhu cầu bậc cao (liên quan đến các hoạt động xã hội, nhu cầu được tôn trọng, tự khẳng định mình).
Hệ thống cấp bậc của Maslow thường được hiển thị trong một mẫu hình kim tự tháp, nhu cầu cơ bản ở phía dưới và nhu cầu cao hơn ở phía trên. Mô hình thể hiện 8 tầm quan trọng của từng loại nhu cầu của con người, trong đó quan trọng nhất và rộng nhất là nhu cầu sinh lý cơ bản (Redmond, 2010). Con người thường hành động theo nhu cầu của bản thân, chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ thỏa mãn và khuyến khích họ hành động. Nói cách khác, việc thỏa mãn nhu cầu là mục đích hành động của con người.
Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu sẽ thay đổi được hành vi của con người. Nhu cầu tự khẳng định Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 2. Các cấp bậc của nhu cầu Maslow (Nguồn: Organization Behaviour, 2007) Dựa trên lý thuyết này, các nhà quản lý muốn tác động tạo động lực cho nhân viên thì cần phải biết nhân viên của họ đang ở thang bậc nhu cầu nào.