Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu các yếu tố tác động đến động lực làm việc của người lao động. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu các yếu tố tạo động lực làm việc của cán bộ giảng viên trường Đại học Ngoại thương. - Chương 4: Giải pháp tạo động lực làm việc của cán bộ giảng viên trường Đại học Ngoại thương.
Luan van 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Phạm Thị Tân và Đặng Thị Hoa (2018) với nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên trường đại học lâm nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 3 - 2018, trang 84-93. Trong nghiên cứu này đề cập đến động lực làm việc của giảng viên trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, trong đó phân tích 8 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của các giảng viên bao gồm đặc điểm công việc, sự công bằng trong thu nhập, trong ghi nhận, cơ hội thăng tiến, mối quan hệ với đồng nghiệp, lãnh đạo trực tiếp, đánh giá của sinh viên, đánh giá của xã hội. Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích các nhân tố khám phá EFA với 251 phiếu điều tra giảng viên trong trường để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên trong trường là rất khác nhau, phản ánh được 72,5% các vấn đề nghiên cứu, cụ thể là yếu tố lãnh đạo, thu nhập, đồng nghiệp, sinh viên, thăng tiến, công việc, ghi nhận, xã hội. Trần Văn Huynh (2016), với nghiên cứu: “Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Sở Lao động – thương binh – xã hội tỉnh Nam Định” Luận văn thạc sỹ quản trị nhân lực trường ĐH Lao động xã hội. Trần Văn Huynh (2016) cho rằng, tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ.
Tác giả nghiên cứu vận dụng mô hình học thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg để Đánh giá động lực làm việc của công chức tại Sở LĐTB&XH tỉnh Nam Định, đồng thời phân tích ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố (nhóm nhân tố tạo động lực và nhóm nhân tố duy trì) tới động lực làm việc của công chức tại Sở LĐTB&XH tỉnh Nam Định. Nghiên cứu đã chỉ ra những nhân tố làm tăng, những nhân tố làm giảm với động lực làm việc của công chức tại Sở. Động lực làm việc của công chức Sở LĐTB&XH tỉnh Nam Định bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi nhóm Luan van 5 các nhân tố thúc đẩy (3/4 nhân tố, là nhân tố đặc điểm công việc, cơ hội thăng tiến, quan hệ công việc), nhưng nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất lại nằm trong nhóm các nhân tố duy trì (1/4 nhân tố, là nhân tố chính sách tiền lương). Ý nghĩa chính của nghiên cứu này là cơ chế, chính sách của Sở LĐTB&XH tỉnh Nam Định cần tập trung giải quyết tốt vấn đề tiền lương cho cán bộ, công chức để thúc đẩy sự hài lòng và thêm động lực.
Khi hài lòng thì nhân viên sẽ nhiệt tình hơn và có động lực để làm tốt công việc của họ. Nguyễn Thị Thu Trang trường cao đẳng Việt Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh với bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng tới việc động viên nhân viên tại Công ty Dịch vụ công ích quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” năm 2013. Bài viết sử dụng lý thuyết động viên để phân tích và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng tới việc động viên nhân viên tại Công ty Dịch vụ Công ích quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tám nhân tố được xác định chỉ có bốn nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến động viên của nhân viên, bao gồm: lương bổng và đãi ngộ tài chính, cơ hội đào tạo và phát triển, phong cách lãnh đạo, mối quan hệ với đồng nghiệp.
Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất một số chính sách mang tính gợi ý trong việc cải thiện mức độ động viên nhân viên tại Công ty Dịch vụ Công ích quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Vũ Thị Uyên (2007), luận án Tiến sĩ Kinh tế với đề tài: “Tạo động lực cho lao động quản lý trong các DN nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020”. Luận án đã hệ thống hóa những lý luận căn bản về lao động quản lý và vai trò của lao động quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; hệ thống và đề xuất về động lực lao động, các nhân tố tạo động lực, các biện pháp tạo động lực cho người lao động và lao động quản lý trong DN. Đồng thời, tác giả cũng phân tích và đánh giá về thực trạng động lực cho lao động quản lý trong các DN nhà nước ở Hà Nội, rút ra một số nguyên nhân cơ bản làm hạn chế động lực của lao động quản lý trong DN nhà nước ở Hà Nội và đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong DN nhà nước ở Hà Nội.
Như vậy, luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng là lao động quản lý. Đây là điểm khác biệt với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Luan van 6 Trương Minh Đức (2011), trong bài viết về “Ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn ERICSSON Việt Nam” đã dựa trên lý thuyết tháp nhu cầu 9 Maslow để đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho các nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Ericsson tại Việt Nam. Lưu Thị Bích Ngọc và cộng sự (2013) trong nghiên cứu: “Những nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong khách sạn” nghiên cứu 11 yếu tố tác động theo mô hình lý thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg, bao gồm bản chất công việc, sự công nhận, phát triển nghề nghiệp, sự thành đạt, sự thăng tiến, chính sách của công ty, an toàn trong công việc, quan hệ với đồng nghiệp, yếu tố lương bổng, quan hệ với sếp, điều kiện làm việc.
Sau khi chạy EFA, kết luận của tác giả đưa ra là chỉ có 4 yếu tố tác động nhiều đến động lực làm việc của nhân viên khách sạn theo mức độ quan trọng thấp dần, bao gồm quan hệ với cấp trên, phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc, bản chất công việc. Huỳnh Thị Thu Sương, (2017), Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Văn phòng UBND Thành phố HCM, Tạp chí Đại học Cửu Long, Số 5, 2017, trang 29 - 39. Nghiên cứu này tập trung nhận diện và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại văn phòng Ủy ban nhân dân TP. HCM, với kích thước mẫu khảo sát là 215.
Kết quả cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại UBND TP.HCM, trong đó yếu tố tác động mạnh nhất là Phát triển và thăng tiến (Beta=0,490), thứ hai là Bản chất công việc (Beta=0,460), thứ ba là Lãnh đạo trực tiếp (Beta=0,360), thứ tư Môi trường làm việc là (Beta=0,349) và thứ năm là Ghi nhận đầy đủ trong công việc (Beta=0,085). Như vậy, các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong một tổ chức, một doanh nghiệp là có cơ sở lý luận và thực tiễn. Mặc dù thứ tự và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến động lực làm việc là khác nhau trong từng loại tổ chức, nhưng những yếu tố chủ yếu có tác động tích cực đến động lực làm việc được thể hiện trong bảng sau. Luan van 7 Bảng 1.1: Các yếu tố chủ yếu tác động đến động lực làm việc Yếu tố Nghiên cứu Đặc điểm/Bản chất công việc Tâm & Hoa (2018), Huynh (2016), Ngọc và cộng sự (2018), Sương (2017) Ghi nhận đóng góp Tâm & Hoa (2018), Sương (2017) Cơ hội thăng tiến Tâm & Hoa (2018), Huynh (2016), Ngọc và cộng sự (2018), Sương (2017) Quan hệ với đồng nghiệp và môi trường Tâm & Hoa (2018), Huynh (2016), làm việc Sương (2017) Lãnh đạo trực tiếp Tâm & Hoa (2018), Ngọc và cộng sự (2018), Sương (2017) Đánh giá của sinh viên và xã hội Tâm & Hoa (2018) Thu nhập Trang (2013) Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.
Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Các công trình nghiên cứu nước ngoài đã nêu ra khái niệm về động lực và tạo động lực của người lao động và phân tích các yếu tố tác động đến tạo động lực cho người lao động. Hai định nghĩa nổi tiếng nhất về động lực là của Bartol và Martin (1998), và định nghĩa của Greenberg và Baron (1997). Bartol và Martin (1998) định nghĩa động lực là sức mạnh điều khiển hành vi, kiểm soát hành vi và nhấn mạnh xu hướng kiên trì. Trong khi đó, Greenberg và Baron (1997) cho rằng động lực là tập hợp các quá trình khơi dậy, chỉ đạo và duy trì hành vi của con người để đạt được một mục tiêu nhất định.
Ngoài những khác biệt nhỏ, cả hai định nghĩa này đều có nội hàm tương tự nhau. Kouloubandi, Jofreh và Mahdavi (2012) đã đề cập trong nghiên cứu của họ rằng một nhân viên có động lực là một người luôn hào hứng và chuẩn bị cho công việc hàng ngày của mình. Động lực được xác định là một trong những yếu tố dự báo tiềm năng nhất về hành vi cá nhân và yếu tố chính giúp phân tích về hiệu suất cho khía cạnh thiết yếu Luan van 8 của hành vi (Steers RM, Shapiro DL (2004)). Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi động lực thể hiện trong một loạt các văn bản quy định (Levin MA, Hansen JM (2008)).
Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc (Stee và Porter, 1983).