CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 4 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG 1. Nguồn gốc Theo Stirpe (1982) protein α-MMC thuộc nhóm RIPs (ribosome inactivating proteins) là những độc tố thực vật có các đặc tính sinh - dược học rất đa dạng trong đó nổi bật là hoạt tính rRNA N-glicosidase. Do đó, α-MMC có khả năng bất hoạt các ribosome trong tế bào nhân thực bằng cách ức chế sự kéo dài của chuỗi polypeptide dẫn đến ức chế tổng hợp protein trong giai đoạn dịch mã của tế bào.
Cấu trúc không gian của α –MMC [Protein Data Bank file 1aha] RIPs được phát hiện ở hơn 50 loài thuộc 14 họ thực vật, bao gồm cả cây một và hai lá mầm của thực vật hạt kín. RIPs không chỉ được tìm thấy ở họ Bầu bí (Cucurbitaceae) với rất nhiều chi gồm các cây thuốc quý như Trichosanthes, Luffa, mà còn thấy ở rất nhiều các họ thực vật khác như Cẩm chướng (Caryophylaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Hoà thảo (Poaceae), Họ đậu (Fabaceae), họ Hoa phấn (Nygtaginaceae). RIPs được tìm thấy ở hầu hết các bộ phận của cây như hạt, rễ, lá, củ, quả, vỏ cây. đặc biệt tồn tại nhiều ở hạt và quả, ít hơn ở lá và thân.
Sự phân bố RIPs trên các mô khác nhau tùy thuộc vào từng loài thực vật (Brar, 2017). Hiện nay, RIPs được phân chia chủ yếu thành hai loại là RIPs loại một và RIPs loại hai. RIPs loại một (Hình 1.2A) bao gồm một chuỗi polypeptide đơn với hoạt tính N-glycosidase. RIPs loại hai chứa hai chuỗi polypeptide (chuỗi A và chuỗi B, hình 1.2B) được liên kết với nhau thông qua cầu nối disulfide, chuỗi A hoạt động như RIPs loại một với trọng lượng khoảng 30 kDa còn chuỗi B là một phân tử có hoạt tính cần Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 5 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG cho sự bám vào thụ thể đầu N galactosyl trên bề mặt tế bào đích và tạo điều kiện cho chuỗi A xâm nhập vào tế bào chất của tế bào.
Do đó, RIP loại hai có khả năng gây độc cao. Ngoài ra còn có RIPs loại bốn (Hình 1.2C) gồm hai chuỗi A với hoạt tính N-glycosidases hoạt động trên rRNA nhân thực và hai chuỗi B với chức năng chưa được biết đến. Khi miền bổ sung có chức năng chưa biết được loại bỏ, protein hoạt động tương tự như RIP loại một (Zhu và cs, 2018). Sơ đồ phân loại protein bất hoạt ribosome thực vật (RIPs).
Trong đó, protein α-MMC thuộc RIPs loại một là một chuỗi polypeptide đơn với trọng lượng phân tử khoảng 29 kDa được Yeung và cộng sự (1985) tinh chế thành công từ hạt trái mướp đắng (Momordica charantia). Phân loại trái mướp đắng theo Singh và cộng sự (2016) như sau: Họ Cucurbitaceae ( bầu, bí) Chi Momordica Loài M.charanti Tên Momordica chinenus, Momordica elegans, Momordica indica, đồng nghĩa Momordica operculata, Momordica sinenuns và Silyos fauriei. Hình ảnh quả mướp đắng (giống Ấn Độ) (A) lát cắt thẳng đứng của quả (B) mặt cắt ngang của quả (C) nhìn gần hơn về quả (D) Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 6 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG 1. Cấu trúc của α-MMC.
Protein α-MMC (CAA40869.1) thuộc nhóm protein bất hoạt ribosome được tìm thấy trong hạt trái mướp đắng (hay trái khổ qua) gồm 286 amino acid. Trong đó, tiểu phần hoạt tính có 246 amino acid (từ vị trí amino acid 24 đến vị trí amino acid 269) với tổng trọng lượng cấu trúc khoảng 29kDa. Empty: không có cấu trúc thứ cấp B: cầu nối beta S: điểm nối T: chỗ uốn cong E: sợi nếp gấp beta H: chuỗi xoắn alpha Hình 1. Chuỗi trình tự của α-MMC (Nguồn ngân hàng dữ liệu protein PDB).
Cấu trúc của α-MMC đã được xác định thông qua phương pháp nhiễu xạ tia X ở độ phân giải 2. Chuỗi polypeptide của α-MMC gấp thành hai miền tương tác tạo thành một khe hở trên bề mặt protein bao gồm 9 α-helices và 10 β-sheets: α1,11- 23; α2, 86-91; α3,111-118; α4, 129-139; α5, 144-163; α6, 165-173; α7, 183-191; α8, 192-202; α9, 231-234; β1, 3-5; β2, 27-31; β3, 34-37; β4, 47-53; β5, 59-65; β6, 70-76; Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 7 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG β7, 79-82; β8, 101-104; β9, 208-215; β10, 223-227. Trong đó tương tác kỵ nước, cặp ion và liên kết hydro giúp ổn định toàn bộ nếp gấp và cấu trúc thứ cấp của protein Hình 1. Biểu đồ vị trí cấu trúc thứ cấp của phân tử α -MMC khi nhìn về phía khe hở vị trí hoạt động ( Ren và cs, 1994).
Vị trí hoạt động của α-MMC nằm ở giữa khe hở và bao gồm các amino axit tham gia vào hoạt động. Trong đó Tyr70, Tyr111, Glu160, Argl63 và Trp192 là bất biến hình thành trung tâm hoạt động và phần còn lại được bảo tồn cao trong protein không liên quan trực tiếp đến việc hình thành các trung tâm hoạt động, như Phe-4, Tyr-14, Phe-17, Arg-22, Leu-52 và Arg-122. Những axit amin này liên quan đến sự ổn định hình học của các trung tâm hoạt động (Ren và cs, 1994). Cơ chế hoạt động của protein α-MMC Protein α-MMC đã được chứng minh có nhiều hoạt tính quan trọng trong nông nghiệp như kháng nấm và kháng virus.
Mô hình cơ chế phòng ngự trực tiếp của α- MMC chống lại mầm bệnh nấm và virus được mô tả như trong Hình 1. α-MMC có thể ức chế mầm bệnh trực tiếp bằng cách xâm nhập vào vách tế bào thông qua lưới nội chất (1) để vào tế bào chất và dựa vào hoạt tính N-glycosidase (2) có thể nhắm đến mầm bệnh ở vùng nội bào hoặc ngoại bào dẫn đến ức chế sự phát triển tổng hợp protein do đó ngăn chặn sự phát triển của nấm và tiêu diệt tế bào nấm (3). Nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nguyên nhân chính gây độc trong các tế bào mầm bệnh là do khả năng gây ra ức chế ngược apoptosis của chúng Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 8 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG (4). Protein α-MMC hoạt động ức chế tổng hợp protein nhờ vào hoạt tính xúc tác N- glycosidase để giải phóng một phân tử adenin đặc trưng (A4324 đánh dấu dựa trên 28S rRNA của gan chuột) do đó phân cắt cầu nối N-glycosidic giữa adenine đặc hiệu và ribose (6).
Quá trình khử purine do thủy phân liên kết N-glycosidic diễn ra trên vùng bảo tồn cao Sarcin/Ricin Loop của rRNA làm gián đoạn sự tương tác của yếu tố kéo dài II (EF-2) khiến ribosome không thể bám vào và cuối cùng ức chế tổng hợp protein ở bước dịch mã gây chết tế bào. Mô hình cơ chế phòng vệ của α-MMC chống lại mầm bệnh (Brar, 2017). Cụ thể trong cấu trúc tiểu phần hoạt tính, ba amino acid: Ile71, Glu160 và Arg163 đóng vai trò quan trọng trong khả năng xúc tác thủy phân của α-MMC. Trong khi Glu160 tích điện âm đóng vai trò ổn định ion oxycarbonium, những liên kết hydrogen ở vị trí N1 và N3 của Adenine với Ile71 và Arg163 tạo điều kiện thuận lợi cho việc α-MMC bẻ gãy liên kết cộng hóa trị giữa N9 của Adenine và C1 của khung Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 9 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG đường (Hình 1.
Sự bẻ gãy liên kết giữa Adenine và khung đường bởi α-MMC dẫn đến bất hoạt RNA ribosome và ức chế sự tổng hợp protein trong tế bào làm giết chết tế bào. Cơ chế xúc tác thủy phân liên kết N-glycosidase giữa Adenine và khung đường trong phân tử RNA ribosome (Ren và cs, 1994). Vai trò sinh học và tiềm năng của protein α-MMC. Hiện nay RIPs đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực và được nghiên cứu phổ biến vì độc tính của chúng với khả năng hoạt động sinh học ức chế tổng hợp protein dựa vào hoạt tính N-glycosidase , do đó RIPs là một nhân tố tiềm năng với ứng dụng hứa hẹn nhất của RIPs trong y học thực nghiệm là phòng chống trị liệu ung thư bằng cách sử dụng protein này như một loại độc tố miễn dịch, liên hợp hoặc các tinh thể tái tổ hợp trong đó chúng được liên kết với các khối u hoặc các kháng thể trung gian gắn kết với các tế bào ác tính (Citores và cs, 2016).
Đặc biệt, ứng dụng trong nông nghiệp của RIPs là kháng nấm và kháng lại virus gây hại cho cây trồng.Các nghiên cứu mới gần đây đã chứng minh α-MMC có thể giúp tăng sức đề kháng của thực vật để chống lại các tác nhân gây hại như virus, vi khuẩn, nấm trong in vitro và in vivo. Trong cây trồng chuyển gen như cây lúa, sự biểu hiện protein α-MMC có thể ngăn chặn bệnh đạo ôn (Huang và cs, 2014). Do đó có thể ứng dụng protein tiềm năng này vào các cơ chế phòng ngự của cây trồng bằng công nghệ chuyển gen giúp thực vật tăng sức đề kháng nấm, kháng vi khuẩn, kháng virus và kháng côn trùng.) Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 10 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG Hình 1. Mô hình kháng bệnh gây hại cho cây trồng của RIP (Zhu và cs, 2018).
Nghiên cứu của Zhu và cộng sự (2013) đã cho thấy khả năng kháng virus hiệu quả bao gồm virus gây bệnh khảm trên cây như Chilli veinal mottle virus (Chi VMV), Cucumber mosaic virus (CMV), Tobacco mosaic virus (TMV) và Turnip mosaic potyvirus (TuMV). Kết quả được thể hiện như trong Hình 1. Mức độ sao chép và biểu hiện của virus trong lá cây thuốc lá (Zhu và cs, 2013). (A) Kết quả realtime-PCR phân tích mức độ sao chép của virus.
(B) Triệu chứng của lá cây khi được ủ với RNA virus. Đối chứng: phun 0.02M đệm PBS; Xử lý: lá cây được tiền xử lý với 0.5 mg/mL α-MMC. Nguyễn Thị Thu Thảo Khóa luận tốt nghiệp Trang 11 GVHD: ĐẶNG THANH DŨNG Kết quả cho thấy nồng độ của α-MMC tỉ lệ với mức độ kháng virus gây hại cho thực vật. Trong đó, cây bị nhiễm virus Chi VMV cho thấy các triệu chứng như vết đốm xanh đậm, xuất hiện dải dọc theo gân lá, đốm vòng hoại tử và biến dạng lá.
Cây bị nhiễm virus chi CMV bề mặt lá nhăn nheo, khảm. Nhiễm virus chi TMV cây xuất hiện triệu chứng khảm xanh đậm cùng với sự biến dạng và phồng lá cây trong khi ở lá cây được xử lí với 0,5 mg/mL α-MMC không xuất hiện các triệu chứng trên. Hơn nữa, tính chất kháng nấm đầy tiềm năng của α-MMC chống lại nấm gây bệnh tấn công vào lúa mì, bắp, lúa… đã được báo cáo bao gồm các loại nấm Sclerotinia sclerotiorum, Fusarium graminearum, Bipolaris maydis, Aspergillus niger, Aspergillus oryzae, kết quả được thể hiện như Hình 1. Hoạt tính kháng nấm của protein α-MMC ức chế sự tăng trưởng sợi nấm gây bệnh ( Zhu và cs , 2013).
Đối chứng: đệm PBS; Xử lý: α-MMC 500µg/ml Kết quả cho thấy protein α-MMC chống lại tất cả các mầm bệnh thực vật thử nghiệm với sự ức chế nảy mầm và thể hiện hoạt tính kháng nấm rộng rãi.