Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƯƠ ƠNG II. CƠ Ơ SỞ LÝ THUYẾT Đ làm sánng tỏa đóng góp của TF Để FP đến tăngg trưởng, chhương nàynnêu lên nhữ ững khái niệệm T của cáác nhà nghiên cứu cũnng như giớ TFP ới thiệu cácc lý thuyết tăng trưởngg có sử dụnng T như một TFP m thành ph hần giải thícch cho tăngg trưởng kinnh tế bao gồồm lý thuyếết nội sinh và n ngoại sinh.1 LÝ THUYẾT TĂNG TR RƯỞNG KIINH TẾ TÂ ÂN CỔ ĐIIỂN (MÔ HÌNH NG TRƯỞ TĂN ỞNG SOLO OW) M hình tăăng trưởng kinh tế tânn cổ điển còòn gọi là mô Mô m hình tăngg trưởng kiinh tế Solow w, đ được phát triển t bởi Robert R Solow w năm 1956, và đến nay n được xem như là một mô hìnnh t tăng trưởngg tân cổ điển n chuẩn troong hệ thốngg lý thuyết tăng trưởngg kinh tế troong dài dạn.11 HÀM SẢ ẢN XUẤT T T Trong mô hình h Solow, không chỉỉ có vốn màà cả lao độnng và sự thaay đổi côngg nghệ đều có t tương quann hàm số vớ ới sản lượngg. Đ tiên Soolow giả địịnh rằng chhỉ có 2 yếu tố sản xuấtt là vốn và lao động trrong mô hìnnh Đầu t tăng trưởngg nên hàm sản s xuất có dạng: Yt = F(Kt,Lt) (22.1) Với : Y làà sản lượng đầu ra K làà vốn (vốn ở đây là vốnn vật thể) L là lao động t là giai đoạn th hời gian Giả thiết rằằng hàm sản n xuất dạngg Cobb-Douuglas là có tính t thuần nhất n tuyến tính và lợi tứ ức k không đổi theo t quy mô ô và hàm (2.1) được biểểu diễn như sau: (2.2) 7 Chia phương trìn nh (2.2) choo Y và sắp xếp lại ta đư ược: (2.3) Trongg đó: là tốc độộ tăng trưởnng sản lượnng hay ký hiiệu G(Y) là độ co giản của sảản lượng theo vốn, hayy ký hiệu α là tốc độ tăng trưởnng vốn hayy ký hiệu G((K) là độ coo giản của sảản lượng thheo lao độngg, hay ký hiiệu β là tốc độộ tăng trưởnng lao độngg hay G(L) làphần dư d của của tăng trưởngg Y sau khi đã trừ đi cáác hiệu ứngg của K vàà L, hay ký hiệu h G(A) Nên phương p trình h (2.4) Vì G((K) và (GL)) là tốc độ tăng t trưởngg của vốn và v lao động,, nên khi nhhân chúng với v α và β ta đư ược phần đóng đ góp củủa sự gia tănng K và L đối đ với tăngg trưởng củaa Y. Nếu có c số liệu chuỗi thời gian g của Y, K, L thì ta tính được G(A) bằng cách lấy G(Y) G trừ đi αG G(K) và βG(L) theo phư ương trình (2.
Tóm lại, l G(A) ch hính là số dư d trong môô hình Soloow (tiến bộ kỹ thuật) hay h còn gọii là tăng trưởngg năng suấtt các yếu tốố tổng hợp – TFP. Như ư vậy, ý ngghĩa của phhương trình (2.4) là tốc độộ tăng trưởn ng sản lượnng có thể đư ược giải thícch bởi tốc độ đ tăng trưở ởng của vốnn và lao 8 động được sử dụng trong nền kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng của tiến bộ kỹ thuật, hay nói cách khác là tốc độ tăng trưởng TFP.2 ĐIỂM MẠNH – ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH SOLOW 2.1ĐIỂM MẠNH Ngay từ khi ra đời, mô hình tăng trưởng Solow đã gây ra một tiếng vang lớn, bởi đây là mô hình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế. Nó đã trở thành xuất phát điểm của nhiều nghiên cứu tăng trưởng kinh tế trong những thập kỷ gần đây. - (2) Sử dụng mô hình Solow để ước tính tác động tương đối của công nghệ và tích lũy vốn trên tăng trưởng thu nhập.
- (3) “Dựa trên sinh lợi của vốn giảm dần, mô hình Solow dự đoán rằng sản lượng bình quân đầu người nước nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn và bắt kịp các nước giàu, ngụ ý có sự hội tụ quốc tế về tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập bình quân đầu người. Mô hình cũng dự rằng suất sinh lợi của vốn ở các nước giàu sẽ thấp hơn so với ở các nước nghèo, ngụ ý rằng có những động lực mạnh mẽ thôi thúc vốn chảy từ nước giàu sang nước nghèo, thúc đẩy nhanh quá trình hội tụ” (Nguyễn Trọng Hoài, 2010, trang 106).2ĐIỂM YẾU Mô hình tân cổ điển cũng có những điểm yếu: - Tiến bộ công nghệ chỉ là biến ngoại sinh, hay nói cách khác là một hằng số cho trước nằm ngoài mô hình. Sự thay đổi của nó sẽ không ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng trưởng sản lượng, tuy nhiên nó là nhân tố quyết định của tăng trưởng. - Bức tranh hội tụ là phức tạp hơn những ngụ ý từ mô hình.
“Trong mô hình này, ngoài mức vốn ra, yếu tố duy nhất quyết định thu nhập bình quân đầu người là tính hiệu quả của lao động, nhưng ý nghĩa chính xác của tính hiệu quả lao động lại không được xác định rõ và hành vi biến đổi của nó lại được coi là ngoại 9 sinh. Hơn nữa, giả sử rằng mức sinh lợi trên vốn phản ánh đóng góp của vốn trong sản lượng, và rằng tỷ phần của nó trong tổng thu nhập được thiết lập ở mức hợp lý thì sự chênh lệch về vốn không thể giải thích được sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia” (Trần Thọ Đạt, 2010, trang 173). Tóm lại, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, bất chấp những giới hạn của nó, đã chỉ ra hai điểm quan trọng. Thứ nhất, đã làm sáng tỏ sự tồn tại của một nhân tố mới trong tăng trưởng kinh tế, đó là tiến bộ công nghệ.
Thứ hai, lý thuyết tân cổ điển đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tích lũy vốn, một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.2 MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH Trong mô hình Solow không đưa ra được sự giải thích tại sao TFP đôi khi tăng trưởng nhanh, đôi khi tăng trưởng chậm. Căn nguyên của tăng trưởng TFP trong lý thuyết tân cổ điển về cơ bản xuất phát từ sự tiến bộ công nghệ. Yếu tố này chỉ đạt yêu cầu ở giai đoạn đầu của thời kỳ tăng trưởng, sau đó khi một nước nghèo có thể đảm bảo kỹ thuật và tiếp thu công nghệ sản xuất từ các nước giàu thông qua các hoạt động thương mại hay viện trợ nước ngoài, vì thế yếu tố này không thể giải thích thỏa đáng về tồn tại khoảng cách thu nhập bình quân đầu người của mỗi nước. Ngoài ra, trong lý thuyết tân cổ điển thì tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tích lũy vốn là không hợp lý.
Do đó cần tìm ra những đặc tính mới của TFP để có thể giải thích hoàn toàn khác biệt về GDP bình quân đầu người trong mỗi quốc gia. Với những lý do trên đã dẫn đến sự ra đời một loạt mô hình tăng trưởng (vẫn dựa trên khuôn khổ lý thuyết tân cổ điển) được gọi là các mô hình tăng trưởng nội sinh. Trong các mô hình này thì giả định chung là lợi nhuận không đổi theo quy mô, còn giả định sinh lợi của vốn giảm dần không được sử dung, đây là điểm mới. Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, TFP không chỉ là phần không giải thích được của các tỷ lệ tăng trưởng từ các yếu tố đầu vào bao gồm vốn và lao động mà TFP còn có ý nghĩa rộng hơn, đó là tất cả các yếu tố có thể dẫn đến đổi mới công nghệ như ý tưởng 10 mới, tri thức mới, thể chế, phát triển nguồn nhân lực…Trong mô hình này, tiến bộ công nghệ là một biến nội sinh, được giải thích bên trong mô hình tăng trưởng.
Để hiểu rõ hơn những biểu hiện của TFP, luận văn sẽ xem xét trong các mô hình tăng trưởng nội sinh sau đây.1 MÔ HÌNH AK Romer (1987) và Rebelo (1991) là những người đầu tiên đưa ra mô hình này. Đây là một trong những mô hình đơn giản nhất theo quan điểm tăng trưởng nội sinh. Sự khác biệt cơ bản giữa mô hình Solow và mô hình AK là không chỉ có vốn vật chất mà còn các loại vốn khác như vốn con người (ví dụ, những tri thức và kỹ năng được sở hữu bởi lực lượng lao động) hoặc trạng thái của tri thức là đầu vào sản xuất. Với giả định lợi nhuận không đổi theo quy mô và sinh lợi của vốn giảm dần, hàm sản xuất của mô hình này được mô tả là hàm Cobb-Douglas từ như sau: Yt = A.5) trong đó: Kt là đại diện cho tập hợp của tích lũy vốn bao gồm vốn vật chất và các thành phần nguồn vốn con người Yt là sản lượng A (A>0) là cải thiện trình độ công nghệ, như trong mô hình Solow.
Theo phương trình (2.5), vai trò của TFP rõ ràng là nội sinh và đây là một điểm tiến bộ hơn so với lý thuyết tân cổ điển chính thống. Do đó, sự khác biệt chủ yếu giữa mô hình AK và mô hình tân cổ điển là ở yếu tố quyết định của tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người. Trong mô hình AK, các thành phần của tăng trưởng kinh tế là một mức độ cải tiến của công nghệ lấy từ đổi mới công nghệ trong khi trong các mô hình tân cổ điển TFP chỉ là một biến ngoại sinh gắn với tiến bộ kỹ thuật. Nhưng điểm giống nhau của hai mô hình là nhấn mạnh vai trò quan trọng của vốn trong tăng trưởng.2 MÔ HÌNH “HỌC HAY LÀM” Mô hình học hay làm được đưa ra bởi Paul Romer (năm 1986 và 1989) và Kenneth Arrow (1962).Trong mô hình này, mỗi hoạt động đầu tư của các cá nhân hay các công ty có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Theo giả định lợi tức không đổi theo quy mô, hàm số theo dạng Cobb-Douglas như sau: Y(t) = K(t)α [A(t).6) Trong đó: Y là sản lượng K là vốn bao gồm vốn vật chất và các thành phần nguồn vốn con người L là lao động A là gia tăng kiến thức (kiến thức mới), bắt nguồn từ quá trình vừa học vừa làm Lưu ý rằng, trong mô hình này sự gia tăng kiến thức không phải là một biến cho trước, nó là một hàm số của sự gia tăng trong vốn và do đó tích lũy kiến thức A(t) là một hàm số của tích lũy vốn K(t) và được mô tả trong hàm dưới đây: A(t) = B.7) Theo phương trình (2.7), sự gia tăng trong đầu tư có thể dẫn đến sự gia tăng trình độ kiến thức, và sự gia tăng kiến thức lần lượt mang lại sự gia tăng sản lượng sản xuất trong một quốc gia [bắt nguồn từ phương trình (2. Để rõ hơn, phương trình (2.