Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về khu kinh tế cửa khẩu Chương 2: Thực trạng phát triển các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế giai đoạn 2006 – 2013 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc đến năm 2020. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1.1 Một số khái niệm 1. Cửa khẩu Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hoá ra - vào qua biên giới đất liền. Theo Nghị quyết số 32/2005/NĐ – CP ngày 14/3/2005 về Quy chế cửa khẩu biên giới đất liền “Cửa khẩu biên giới đất liền (CK biên giới) bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia (CK chính) và cửa khẩu địa phương (CK phụ), được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc gia”.
Cửa khẩu Việt Nam được hiểu như là những nơi tại Việt Nam diễn ra các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và qua lại biên giới quốc gia đối mới người, phương tiện, hàng hoá và các tài sản khác[12]. + Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam, nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập qua biên giới quốc gia. + Cửa khẩu chính (cửa khẩu quốc gia) được mở cho người, hàng hoá của Việt Nam, nước láng giềng xuất, nhập khẩu qua biên giới quốc gia. + Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam và nước láng giềng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia.
Khu kinh tế Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 13/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế: “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lí xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [15]. Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phí thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www. Khu kinh tế cửa khẩu Cho đến nay, nhiều cơ sở lý thuyết liên quan đến KKTCK được đề cập những khái niệm KKTCK vẫn chưa có sự thống nhất cao từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vì tùy thuộc vào điều kiện hình thành và phát triển đặc thù của nước mình.
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP của Chính phủ và Quyết định số 33/2009/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã xác định: “Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính của các quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do đó Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập”[15;13]. Như vậy, khu KTCK đặt lên hàng đầu là các hoạt động về thương mại – dịch vụ, gắn với cửa khẩu và chịu tác động mạnh mẽ của chính sách biên mậu của các nước láng giềng có đường biên giới chung. Đó là nguồn hàng hóa, dịch vụ tại chỗ và từ các nơi khác (các vùng kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất) là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của nó. Trên thực tế khu KTCK có mối quan hệ qua lại với các hình thức và mô hình kinh tế khác.
Cách hiểu này nêu rõ hai vấn đề cốt lõi của KKTCK biên giới: - KKTCK biên giới là một không gian lãnh thổ về kinh tế, đồng thời cũng là không gian lãnh thổ về dân cư; - KKTCK lấy hoạt động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới làm hoạt động chính. Đặc điểm, vai trò của khu kinh tế cửa khẩu 1. Đặc điểm của Khu kinh tế cửa khẩu - Các KKTCK cách xa trung tâm kinh tế chính trị nước mình - Dân cư tại các khu kinh tế ở các nước láng giềng có sự tương đồng về văn hóa, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo ; - Có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội - môi trường và chất lượng cuộc sống ; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn - Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu ; - Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Mô hình đƣờng thẳng 1.
Mô hình quạt giao nhau ở cán 1. Mô hình quạt giao nhau ở cánh 1. Mô hình lan tỏa Hình 1. Một số mô hình không gian của KKTCK Nguồn: Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Văn Linh Chú thích: - khu kinh tế cửa khẩu - Đường biên giới - Đường giao thông đô thị - Đô thị, KCN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.
Đặc điểm các mô hình phát triển không gian của KKTCK Mô hình Đƣờng thẳng Quạt giao Quạt giao Lan tỏa ở cán ở cánh Kết cấu Hai bên có tuyến Hai bên có hàng Cạnh biên giới Các khu đô thị đường bộ, đường sắt, loạt các đô thị, có các khu đô và KCN, các đường sông hoặc liền KCN, các vùng thị, KCN tập vùng sản xuất bờ biển. Trên đó hình sản xuất nông trung. không tập trung thành các đô thị, khu nghiệp cách ở gần biên giới công nghiệp (KCN), biên giới một như các mô bến cảng ở mỗi bên khoảng cách hình trên. với cự li hợp lí có mối thích hợp (hình liên hệ kinh tế mật thành tự nhiên thiết với khu KTCK hoặc quy ước) Lưu Mô hình này tồn tại Việc trao đổi Hàng hóa hai Hàng hóa được thông “tự nhiên”, từ lối mòn hàng hóa tập bên trao đổi trao đổi phát tán hàng hóa dân cư qua lại sau đó trung về khu phân tán ở ở nhiều cặp do nhu cầu trao đổi kinh tế theo nhiều cặp chợ chợ, thị trấn tăng, giao thông phát đường giao biên giới.
triển thành cửa khẩu thông gần nhất. Đặc điểm - Là mô hình có nhiều - Có tính tập - Thích hợp với - Mang tính tự ưu điểm: vừa giảm trung cao về biên giới có địa phát do tập tập trung cao về biên thương mại, có hình bằng quán sinh hoạt giới, cũng có thể sử thể gọi là cảng phẳng đông dân dân cư, phát dụng kênh hàng hóa khô hay khu cư. triển theo yêu nhập khẩu và xuất thương mại tự cầu, lợi dụng khẩu với lợi thế về do. các yếu tố tự giao thông.
- Là mô hình cơ sở cho các mô hình khác. Nguồn: Tổng hợp của tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn Như vậy, mô hình đường thẳng là mô hình có nhiều ưu điểm: vừa giảm tập trung cao về biên giới, cũng có thể sử dụng kênh hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu với lợi thế về giao thông. Đây là mô hình cơ sở cho các mô hình khác. Vai trò của Khu kinh tế cửa khẩu Kinh tế cửa khẩu từ lâu đời đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế đất nước, nó tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội cả nước nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng.
- Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, ưu thế các địa phương biên giới nhằm tăng cường giao thương giữa các nước có chung đường biên giới, đẩy mạnh phát triển du lịch, công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh có cửa khẩu. - Thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau để xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển có hiệu quả nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh tế cửa khẩu. - Góp phần mở rộng các hoạt động giao lưu buôn bán, mở rộng thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, tạo lợi thế cạnh tranh trước mắt và lâu dài cho các sản phẩm, ngành chủ lực; ngành xây dựng các hệ thống, mạng lưới phân phối, cung cấp các dịch vụ đi kèm. - Hạ tầng cơ sở vật chất kĩ thuật được cải thiện đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân địa phương và các khu vực lân cận.
- Tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương và thu hút nhiều cá nhân , doanh nghiệp, người lao động đến kinh doanh, làm việc trong các ngành của KTCK. - Thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng và các nước trong khu vực, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa nước ta với những nước có chung đường biên giới; góp phần giữ vững hòa bình và an ninh quốc phòng, ổn định xã hội ở vùng biên giới hai nước 1. Các nhân tố ảnh hưởn đến sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới Về đại thể, có rất nhiều nhân tố và nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các KKTCK bao gồm cả nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài bởi lẽ đây là mô hình kinh tế được hình thành và phát triển từ lâu đời (dưới các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.vn hình thức và quy mô khác nhau nhưng tính chất và đặc điểm vẫn giữ nguyên bản chất vốn có của nó), chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng và chi phối dưới nhiều chiều, hướng tác động. Trong đó nổi lên các nhóm nhân tố chủ yếu sau: * Nhân tố bên ngoài - Thứ nhất, các yếu tố tự nhiên (vị trí địa lí, khí hậu, địa hình, môi trường…) Việc lựa chọn xây dựng các KKTCK trước hết phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đó phải là nơi có những thuận lợi về vị trí địa lí “đắc địa”, phù hợp với giao lưu kinh tế - thương mại biên giới, là cầu nối kinh tế trong và ngoài nước, bởi đây là đầu nối phát triển không gian kinh tế mở nước ta.