CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1.1 Các khái niệm có liên quan 1.1 Người cao tuổi Theo Trần Thị Vân Anh trong “ Người cao tuổi và gia đình” (Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới số 2-2008), khái niệm NCT được xem ở những góc độ sau: Thứ nhất, một số nghiên cứu về NCT sử dụng tuổi nghỉ hưu như một tiêu chí xác định NCT. Các này có thuận lợi là tuổi nghỉ hưu đã được quy định bởi các văn bản pháp quy ở mỗi nước. Tuy nhiên, cách này có điểm bất lợi là đối với nhiều người, chẳng hạn như người tự sản xuất kinh doanh và lao động tự do thì tuổi nghỉ hưu không có ý nghĩa cụ thể. Ngoài ra, ngay đối với những người làm công ăn lương thì tuổi nghỉ hưu cũng không phù hợp với nhiều trường hợp bởi có những người về nghỉ trước tuổi này hay có những người còn làm việc sau tuổi này.
Thứ hai, xét từ góc độ sinh học, NCT là các cá nhân mà sự lão hóa của cơ thể đã bộc lộ ở các mức khác nhau, thể hiện cụ thể ở tuổi thọ của họ. Tuy nhiên, người ta già ở những độ tuổi khác nhau. Những dấu hiệu như da mồi, tóc bạc hay khả năng vận động,… có sự khác biệt rất lớn giữa những người cùng tuổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, xã hội,… Thứ ba, xét từ góc độ kinh tế, tuổi già là thời điểm mà người lao động không còn khả năng độc lập về kinh tế nên cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ xã hội. Một hệ thống các dịch vụ hay là ngành chăm sóc sức khỏe, dịch vụ phúc lợi đối với NCT ra đời và ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, tiêu chí này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhóm đối tượng có khả năng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc. Thứ tư, xét từ góc độ các quan hệ xã hội, NCT là những người giảm dần các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và tăng dần sự phụ th uộc vào các thành viên xã hội khác để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình. Tuy nhiên, cách xác 12 định này xem NCT là nh ững người yếm thế, là hình thức phân biệt đối xử với NCT. Theo từ điển Tiếng Việt, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên”.
Gìa hoặc già cả còn dùng để chỉ người nhiều tuổi, cao tuổi, lâu năm. Như vậy, về mặt thuật ngữ “người già” hay “người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách nói khác nhau mang cùng một nội dung khái niệm dùng để chỉ người đã rất nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình. Trước đây, trong xã hội cổ truyền tuổi thọ trung bình thấp khiến con người nhanh đến tuổi già, hơn 50, 60 tuổi đạ được gọi là già. Ngày nay, trong những điều kiện mới, đã nảy sinh một lớp người cao tuổi mới, tuy tuổi đời đã cao nhưng vẫn trẻ cả về tinh thần và thể lực.
Vì vậy, việc dùng khái niệm “già” căn cứ vào tuổi tác không phản ánh chính xác quá trình sinh học và tâm lý của lớp tuổi này. Tổ chức y tế thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau: - Từ 45-59: trung niên - Từ 60-70: người có tuổi - Từ 70-90: người già - Từ 90 trở lên: người già sống lâu, đại thọ Ở Việt Nam hiện nay, nói về lứa tuổi 60 trở lên vẫn còn tồn tại cả ba khái niệm người già, người có tuổi, người cao tuổi. Như vậy, với đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm NCT được phân định theo độ tuổi nghĩa là tất cả những người phụ nữ và nam giới có độ tuổi từ 60 trở lên.2 Đời sống tinh thần: là một tập hợp những hoạt động đem lại sự thoải mái cho các cá nhân, nhóm, cộng đồng như: giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao, thăm hỏi bạn bè, giao tiếp xã hội, tham quan, du lịch, thưởng thức các loại hình văn hóa nghệ thuật,… 13 1.3 Lối sống Lối sống đề cập đến các khuôn mẫu hành vi ứng xử của các cá nhân, các nhóm xã hội trong những hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ th ể và các khuôn mẫu ứng xử đặc trưng cho mỗi nhóm xã hội. Như vậy lối sống là phương thức hành động sống của các cá nhân, các nhóm xã hội, gắn liền với việc thoả mãn các nhu cầu cấp bách trong những tình huống xã hội cụ thể.4 Giải trí Theo từ Điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) NXB Thế Giới Hà Nội - 1994 trang 16 định nghĩa “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học.
Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng” 1.5 Khái niệm tín ngưỡng Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân ộc t , dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngư ỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian.
Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói ọgn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng 14 với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm.( Theo bách khoa toàn thư http://vi.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng) 1.6 Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có sự gắn bó chặt chẽ với một lực lượng huyền bí, đó là lực lượng siêu tự nhiên.
Tôn giáo, chính là mối quan hệ giữa những tín đồ tôn giáo tự nhiên. Mối quan hệ đặc biệt này đã quy định những đặc điểm xã hội của những tín đồ tôn giáo, của các cộng đồng tôn giáo và sự khác biệt về mặt xã hội giữa những tín đồ tôn giáo với những người không theo tôn giáo. Theo cách nói của Marx, tôn giáo là một “sản phẩm xã hội” Nó được quy định và quyết định bởi lịch sử. Và vì cơ sở của quá trình lịch sử là sự phát triển của các điều kiện vật chất của đời sống xã hội, nên nguồn gốc phát sinh các biểu tượng tôn giáo cũng ở ngay trong điều kiện sinh sống của con người.
Những lực lượng trần tục thống trị con người, đè nặng lên ý thức của họ và được phản ánh vào trong ý thức của họ một cách hoang đường, đã sinh ra những biểu tượng siêu tự nhiên. Những hình ảnh và biều tượng tôn giáo trong ý thức của con người, chính là tốn tại được phản ánh. Học thuyết của K.Engels về sự phản ánh hoang đường hiện thực, với tính cách là nguồn sản sinh và nội dung của lòng tin tôn giáo, đã giáng một đòn quyết định vào các quan niệm thần học, vào các quan niệm tầm thường, nông cạn của chủ nghĩa siêu hình trong vấn đề ngồn gốc của tôn giáo. Nếu trong thế giới quan tôn giáo, tồn tại trần tục của con người được phản ánh một cách hoang đường, thì những quan điểm tôn giáo cùng các hệ thống tín điều hay các giáo điều, đều có cơ sở của chúng là tình hình kinh ết , hạ tầng cơ sở vật chất của một xã hội nhất định.
Tuy nhiên chúng cũng tác động lại hạ tầng cơ sở và trong một chừng mực nào đó chúng cũng giữ vai trò chủ động. Bức tranh càng trở nên phức tạp hơn một khi các quan điểm, biểu tượng tôn giáo không phải 15 chỉ chịu sự tác động của cơ sở hạ tầng mà còn cả những yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng. Không thể không thấy rằng, tác động vào tôn giáo còn là đạo đức, là triết học, là các quan điểm chính trị và pháp quyền. Trong vấn đề này, giữa vai trò quan trọng là chính trị, nhà nước, các hoạt động của nhà nước, các hình thức khác nhau của đấu tranh giai cấp, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tôn giáo.
Trật tự ở trên trời, chính là cái phản ánh cái trật tự dưới đất. Lối sống, đạo đức thế tục cũng được phản ánh hoang đường thành lối sống, đạo đức của vương quốc nhà trời cùng với những ước vọng, nỗi đau buồn của các tập đoàn, các gia cấp xã hội khác nhau trong cuộc sống hiện thực. Mặt khác tôn giáo cũng ảnh hưởng đến mọi mặt, mọi yếu tố của kiến trúc thượng tầng. Ảnh hưởng có biểu hiện ra đời sống chính trị, trong sự phát triển của các quan điểm triết học, đạo đức, mỹ học, xã hội học, trong sự phát triển của nghệ thuật,… Thông thường, ảnh hưởng đó mang tính chất phản động và là một gánh nặng đè lên mọi yếu tố và mọi mặt của đời sống xã hội.
Trong đời sống thực tế, có một số lớn các yếu tố chồng chéo nhau, tác động lẫn nhau hết sức phức tạp. Tôn giáo là một trong số những yếu tố đó. Vào những năm tháng cuối cuộc đời, F.Engels đã làm sáng tỏ các v ấn đề này qua các thư từ trao đổi. Marx-Engels, Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.7 An sinh xã hội Ngân hàng Thế giới cho rằng: “An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”.2 Hướng tiếp cận lý thuyết 1.