MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng tự hào và đang ngày càng tiến nhanh trên con đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Trên mọi mặt xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, chúng ta đã đạt đƣợc rất nhiều thành tựu, vƣơn mình ra hội nhập với toàn cầu. Vào ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thƣơng mại thế giới WTO.
Sự kiện này đã khẳng định một vị thế mới của Việt Nam trên bình diện quốc tế, mở ra một cơ hội lớn cho toàn dân tộc gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu với không ít những thách thức. Mục tiêu của chúng ta là cho đến năm 2020 Việt nam trở thành một nƣớc công nghiệp phát triển, có thể sánh vai với các nƣớc phát triển trên toàn thế giới. Quá trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời đƣợc cải thiện rõ rệt. Sự xuất hiện của các đô thị lớn nhƣ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẵng, Hải phòng, Bình Dƣơng với các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng đã góp phần không nhỏ trong việc làm “thay da đổi thịt” đất nƣớc.
Khi nói đến các khu đô thị có những bƣớc tiến đột phá, ngƣời ta không thể quên kể đến Hà Nội, với hàng loạt các khu công nghiệp lớn nhỏ, điển hình nhƣ khu công nghiệp nghiệp Bắc Thăng Long, là một trong hai khu công nghiệp lớn nhất Hà Nội. Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hƣng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ. Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam. Hà Nội là thủ đô của đất nƣớc, là thành phố có nền kinh tế phát triển đứng thứ hai trên cả nƣớc sau thành phố Hồ Chí Minh với hàng loạt các khu công nghiệp lớn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ Quang Minh, Bắc Thăng Long, Thạch Thất – Quốc Oai… Trong thời gian qua Hà Nội luôn là thành phố thu hút nhiều dân nhập cƣ từ các địa phƣơng khác.
Kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2009 của Tổng cục thống kê dân số của Thành phố Hà nội đạt mốc 6. Đặc biệt trong vòng 4 năm (2008-2011) dân số Hà Nội đã tăng khoảng 43 vạn ngƣời, trong đó tăng dân số cơ học lên tới 5 vạn ngƣời/năm, chủ yếu thuộc các đối tƣợng trong độ tuổi lao ộng.Vài ba năm gần đây, số ngƣời nhập cƣ ở Việt Nam ƣớc tính tăng 25-50% và sẽ tăng đáng kể sau khi nƣớc ta gia nhập WTO [35, tr.5] Ngân hàng thế giới dự tính: tình trạng nghèo khổ ở đô thị Việt Nam sẽ tập trung chủ yếu ở nhóm ngƣời nhập cƣ và trong vòng hai thập kỷ tới, mỗi năm sẽ có khoảng 1 triệu ngƣời rời nông thôn ra thành phố. Đây cũng là những nhận định trong báo cáo nghiên cứu về ngƣời lao động nhập cƣ ở Việt Nam do Actionaid thực hiện, công bố trong Ngày gặp mặt tổng kết tháng đoàn kết vì ngƣời nghèo (4/12/2005) tổ chức tại Hải Phòng. Kết quả phỏng vấn công nhân từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ra Hà Nội tìm việc cho thấy: khi lựa chọn doanh nghiệp vào làm việc, 45% lao động thiếu thông tin về tiền lƣơng, 40% thiếu thông tin về yêu cầu kỹ năng tay nghề; 55% chƣa hề đƣợc đào tạo nghề, 36% đƣợc đào tạo nghề may và 8% đƣợc đào tạo các nghề khác; 62% ngƣời ra thành phố làm việc là do gia đình cần tiền, 72% muốn kiếm đƣợc nhiều tiền hơn ở nhà.5] Với hành trang, trình độ học vấn cũng nhƣ kỹ năng tay nghề hạn chế nhƣ vậy, họ rất khó khăn trong tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống nơi đô thị.500 công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, 70% là ngƣời lao động nhập cƣ và 60% là phụ nữ [35, tr.
Đề tài này muốn đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập cƣ tại khu Công nghiệp Bắc Thăng Long – Thuộc khu vực thành Phố Hà Nội là một trong hai khu công nghiệp lớn nhất thành phố, để nhìn thấy đƣợc những khó khăn mà các chị gặp phải trong cuộc sống và điều gì khiến cuộc sống của họ bị “cản trở”. Dựa trên những thực trạng đời sống tôi sẽ gợi ý để xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục kỹ năng sống cho các nữ công nhân nhập cƣ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu ai đã bắt gặp hình ảnh của những chị công nhân nhập cƣ giờ tan ca thì không thể quên đƣợc dáng vẻ mệt mỏi thể hiện trên từng khuôn mặt, qua những bƣớc chân tƣởng chừng nhƣ không nhấc lên đƣợc của họ. Những ngày làm việc căng thẳng và biết bao lo toan vất vả đã làm cho bộ dạng bên ngoài của các chị trở nên tiều tụy và xơ xác.
Bản thân là một ngƣời nhập cƣ sống xa nhà, tự lập trong cuộc sống và có cơ hội chứng kiến hiện thực cuộc sống của các nữ công nhân nhập cƣ nên tôi hiểu đƣợc phần nào những vất vả cuộc sống mà các chị đang trải qua. Đó cũng là động lực thúc đẩy tôi thực hiện đề tài này để có cái nhìn thấu đáo về “Đời Sống của Nữ Công Nhân Nhập Cƣ tại Khu Công Nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dƣới góc nhìn Công tác xã hội (Khảo sát tại các nhà trọ trên địa bàn xã Hải Bối – Huyện Đông Anh)”. Mong rằng đề tài sẽ đƣa ra đƣợc một bức tranh chi tiết về cuộc sống của các nữ công nhân nhập cƣ cũng nhƣ những khó khăn và mong muốn của họ trong cuộc sống, để từ đó thấy đƣợc họ đang cần gì, thiếu gì cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Từ trƣớc đến nay đã có khá nhiều các nghiên cứu về công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn cả nƣớc, trong những nghiên cứu đó cũng có không ít các nghiên cứu về nữ công nhân nhập cƣ.
Đây là vấn đề chiếm đƣợc sự quan tâm từ nhiều các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý,…Với mỗi lĩnh vực nghiên cứu lại có những cách thức đánh giá, hƣớng nghiên cứu khác nhau. Nhƣng các nghiên cứu đó đều hƣớng tới việc đi sâu tìm hiểu về những khó khăn của công nhân gặp phải trong cuộc sống, trong công việc từ đó có những giải pháp để hỗ trợ cho quá trình sống và làm việc của họ. - Các nghiên cứu, bài báo, tạp chí Kim Anh, Nguyễn Tập và Quốc Linh (2004), “Chuyện dài nhiều tập của công nhân nhập cƣ”. Nhóm tác giả đã nói lên đƣợc thực trạng đời sống của công nhân nhập cƣ mà đáng chú ý hơn cả là nữ công nhân.
Các nữ công nhân đều gặp các vấn đề từ nhà trọ đến ăn uống hàng ngày, thu nhập, tình cảm, sức khỏe…Họ phải sống trong các khu nhà trọ ẩm thấp, dột nát, chật hẹp, ăn uống thì tằn tiện vì đồng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lƣơng quá ít ỏi. Tình trạng sống thử xảy ra đầy rẫy, không nhận đƣợc sự quan tầm về mặt sức khỏe từ phía công ty nên nữ công nhân dễ mắc các bệnh: Đau bao tử, viêm xoang, viêm phụ khoa… Phan Thị Mai Hƣơng Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm (2011), “Báo cáo kết quả nghiên cứu về công nhân”. Đề tài đã thực hiện khảo sát với những công nhân trên cả ba miền đất nƣớc về vấn đề kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng ngƣời công nhân có sự quan tâm đối với các vấn đề lớn của đất nƣớc nhƣng nhận thức còn chƣa thực sự đầy đủ, còn có những hạn chế.
Các thông tin về những vấn đề lớn, đƣợc nhiều ngƣời quan tâm đƣợc ngƣời công nhân tiếp nhận chủ yếu qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng nhƣ truyền hình, đài, báo chí. Thậm chí ngay cả việc tiếp thu thông tin qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng cũng không phải là nhiều, do phần lớn thời gian ngƣời công nhân đành để làm việc, làm tăng ca., do ngƣời công nhân còn đang phải lo cho cuộc sống hàng ngày, lo kiếm sống. Vì vậy, thông tin thu đƣợc cũng không phải là nhiều. Bên cạnh đó, trình độ học vấn của ngƣời công nhân nói chung chƣa cao nên điều này cũng có ảnh hƣởng đến nhận thức của họ.
Lê Trọng và Nguyễn Minh Ngọc (2001), “Lao động nữ ra thành phố cƣ trú tự do tìm việc làm: thực trạng và giải pháp”. Tác giả đã đƣa ra các nguyên nhân của vấn đề lao động nữ ra thành phố cƣ trú tự do, bên cạnh nguyên nhân là do kinh tế khó khăn thì còn bao gồm cả nguyên nhân về tinh thần. Trong bài viết, tác giả cũng nói tới những khó khăn mà nữ công nhân phải đối mặt trong quá trình di cƣ đi tìm việc làm. Nguyễn Văn Tài và CTV, “Di dân tự do nông thôn – thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Nông nghiệp, 1998.
Tác giả đã giúp ngƣời đọc có một cái nhìn tổng quát về vấn đề di dân tự do từ nông thôn ra thành thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, những tích cực và tiêu cực của việc di dân tự do đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra những biện pháp vừa mang tính chất dài hạn và ngắn hạn đối với hiện tƣợng di dân tự do. Hà Thị Phƣơng Tiến và Hà Quang Ngọc, “Lao động nữ di cƣ tự do nông thôn – thành thị”, NXB Phụ nữ, 2000. Công trình này đã cung cấp cho chúng ta biết đƣợc thực trạng cuộc sống của lao động nữ di cƣ tự do từ nông thôn ra thành phố, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề việc làm, thu nhập, điều kiện sống của họ tại thành phố Họ gặp nhiều vấn đề khó khăn, trở ngại trong cuộc sống nhƣ sự bất cập giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và yêu cầu, giữa đóng góp và hƣởng thụ.