CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT SINH KẾ CỦA DÂN CƯ 1. Lý thuyết về sinh kế bền vững 1. Khái niệm sinh kế bền vững Năm 1992, Robert Chambers, một nhà nghiên cứu của viện nghiên cứu về phát triển Sussex - Vương quốc Anh và Gordon Conway đã đề xuất một khái niệm về sinh kế bền vững mà nó được áp dụng ở cấp độ hộ gia đình: Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cửa hàng, tài nguyên, khả năng tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống. Sinh kế bền vững là nó có thể đương đầu và phục hồi trước tác động của những áp lực và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và tăng cường được các khả năng và tài sản của mình và cung cấp cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau; có thể đóng góp những lợi ích ròng thu được từ các hoạt động của mình cho sinh kế khác ở địa phương hay trên thế giới trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp nhất là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của họ. Danh mục tài sản này nó bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng, tài nguyên. và tài sản vô hình như quyền lợi, khả năng tiếp cận. Sau này, Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và Bộ phát triển toàn cầu Vương quốc Anh (DFID) đã nghiên cứu khái niệm và cách tiếp cận mới về sinh kế bền vững; Ian Scoones, một nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu phát triển của Vương quốc Anh đã đề xuất một định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sinh kế bao gồm những khả năng và tài sản (cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống.
Sinh kế bền vững là khi mà nó có thể đương đầu và phục hồi khi trải qua những tổn thất và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và nâng cao những khả năng và tài sản của mình, trong khi không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên. Điểm khác biệt chính giữa định nghĩa mới của Scoones và định nghĩa trước đó của Chambers và Conway là ở chỗ nó không bao gồm những yêu cầu để một sinh kế được xem là bền vững như đóng góp lợi nhuận ròng từ các hoạt động của mình cho sinh kế của người khác. Khung sinh kế bền vững Khung lý thuyết về sinh kế bền vững được định nghĩa dựa trên những công cụ được sử dụng để phân tích và cải thiện khả năng sinh kế. Khi xây dựng khung lý thuyết các nhà nghiên cứu không có dự định đi tìm một mô hình chính xác với thực tế, nhưng nó sẽ đưa ra một cấu trúc phân tích để thuận tiện trong việc hệ thống hóa những nhân tố khác nhau, mà nó kìm hãm hay nâng cao cơ hội sinh kế (DFID, 1999).
Có nhiều khung lý thuyết về sinh kế bền vững như khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP, CARE, DFID, nhưng trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả sử dụng khung sinh kế bền vững được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) để phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID được xây dựng xung quanh 5 hạng mục chính của tải sản sinh kế, được mô tả trong hình ngũ giác, chúng có mối liên hệ lẫn nhau, bao gồm: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Khung phân tích sinh kế bền vững H= Vốn con người S= Vốn xã hội N= Vốn tự nhiên P= Vốn vật chất F= Vốn tài chính Tài sản sinh kế Chính sách & Tổ chức + Tình H Ảnh huống dễ bị hưởng Chính sách Tổ chức tổn thương S N Khả -Luật -Cấp chính quyền -Cú sốc năng -Chính sách -Tổ chức tư -Xu hướng P F tiếp -Thời vụ cận -Văn hóa -Tổ chức phi chính phủ Kết quả sinh kế -Giảm nghèo -Tăng thu nhập -Cải thiện cơ sở hạ tầng cộng đồng Chiến lược sinh kế -Cải thiện các vấn đề kinh tế xã hội -Tăng cường phúc lợi Nguồn: Krantz, 2001 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khung sinh kế bền vững Thứ nhất, tình huống dễ bị tổn thương, tình huống dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người.
Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ. Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được. Tình huống dễ bị tổn thương được cấu thành bởi các nhân tố như: Xu hướng: Dân số, môi trường thay đổi, công nghệ, thị trường và thương mại, toàn cầu hóa; Cú sốc: Lũ lụt, hạn hán, bão, chết trong gia đình, bạo lực hay tình trạng bất ổn dân sự, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiến tranh, dịch bệnh; Tính thời vụ: Biến động giá cả, biến động sản xuất, sức khỏe, những cơ hội làm việc. Những nhân tố cấu thành nên hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra những cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi.
Thứ hai, tài sản sinh kế, được biểu hiện qua hình dạng của ngũ giác tài sản diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản như sau: Vốn con người (H = Human capital): Đây có lẽ là nhân tố quan trọng nhất. Vốn con người thể hiện kỹ năng, kiến thức, năng lực để lao động cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Ở mức hộ gia đình thì vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có, năng lực thích ứng, năng suất làm việc; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kỹ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe… Vốn tự nhiên (N = Natural capital): gồm các các yếu tố về đất đai và sản xuất; nước và các nguồn lợi thủy sản; cây và lâm sản; đa dạng sinh học; dịch vụ môi trường. Vốn vật chất (P = physical capital): Đề cập đến tài sản do con người tạo nên và các dạng tài sản vật chất.
Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và công cụ sản xuất hàng hóa cần thiết để hỗ trợ sinh kế bao gồm: giao thông-đường xá, xe cộ; nơi trú ẩn an toàn và các tòa nhà; cấp nước và vệ sinh môi trường; năng lượng; thông tin liên lạc; công cụ và thiết bị sản xuất (hạt giống, phân bón và thuốc trừ sâu); công nghệ truyền thống… Vốn xã hội (S = Social capital): Là các tiềm lực xã hội mà con người vạch ra nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. Các mục tiêu này được phát triển thông qua các mạng lưới và các mối liên kết với nhau, tính đoàn hội của các nhóm chính thức; và mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau. Cơ chế cho tham gia vào các quyết định; lãnh đạo…. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vốn tài chính (F = Financial capital): Vốn tài chính chỉ rõ các nguồn lực về tài chính mà người dân sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của họ, nó có thể gồm: tiết kiệm; tín dụng-nợ; kiều hối, lương hưu; tiền lương….
Mô hình lý thuyết của DFID còn so sánh mức độ tiếp cận tài sản của các nhóm xã hội khác nhau, từ đó xác định nhu cầu của từng nhóm đảm bảo sự cân bằng giữa các loại tài sản. Các loại tài sản còn liên kết với nhau theo nhiều cách để sinh ra kết quả thu nhập thực, có hai cách tiếp cận thông dụng nhất là: Sự tuần tự: người ta bắt đầu đối phó và vượt qua những cú sốc hay những áp lực bằng những kết hợp tài sản nào? Tiếp cận một hay một vài tài sản cụ thể nào đó là cần và đủ để vượt qua những cú sốc? Nếu như vậy, nó có thể cung cấp những chỉ dẫn quan trọng về nơi mà những hỗ trợ sinh kế sẽ đặt trọng tâm, ít nhất là lúc bắt đầu. Ví dụ người dân dùng tiền (tài sản tài chính) để mua sắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (tài sản vật chất) Sự thay thế: Liệu một loại tài sản có thể thay thế cho một loại khác? Ví dụ tăng tài sản con người có thể bù đắp thiếu hụt vốn tài chính trong hoàn cảnh cụ thể không? Từ đó mở rộng các lựa chọn để hỗ trợ. Cũng theo nghiên cứu này, đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế của người dân và sinh kế phụ thuộc vào sự kết hợp của những loại tài sản khác nhau, nó là phần quan trọng để con người giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình.
Do đó, những chiến lược sinh kế khác nhau chỉ được chọn khi mà nó đề cập đến những nguy cơ hay những cơ hội mà người dân phải đối mặt trong quá trình di chuyển đến nơi ở mới. Tại Việt Nam, đất đai không chỉ là tài sản của người dân mà còn là phương tiện sản xuất – kinh doanh để tạo nguồn thu nhập, đặc biệt là đối với người nông dân. Vì vậy, khi nhà nước thu hồi đất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh kế của người dân. Tổng quan về phát triển khu công nghiệp 1.
Khái niệm về khu công nghiệp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Điều 2, Nghị định 29/CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.