MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Gần 30 năm sau đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên hầu hết các lĩnh vực và đang phấn đấu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Sự biến đổi này diễn ra với tốc độ mạnh mẽ và có thể dễ dàng nhận thấy thay đổi đó chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thay vì trước đây là một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam đã chú trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Cùng với sự thúc đẩy về công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra việc làm dồi dào và năng suất cao trong lao động, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp ở Việt Nam. Sự dịch chuyển các dòng lao động giữa các địa phương, vùng miền góp phần điều tiết lao động giữa các khu vực. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2009 có 6,6 triệu người (tương đương với khoảng 7,7% dân số) từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi cư trú tới địa điểm khác. Con số này thể hiện sự gia tăng đáng kể so với 4,5 triệu người di cư trong nước ghi nhận từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 [13].
Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kể từ năm 2007, có sự sự bùng nổ về hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cùng với đó là sự phát triển chóng mặt của hệ thống các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) ở Việt Nam. Cả nước hiện có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 76.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đến cuối tháng 12/2011, trong số 283 KCN đã thành lập, có 180 KCN đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký là 5,3 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 3,2 tỷ USD; còn lại 103 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản [56].
Riêng trong năm 2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,47 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,28 tỷ USD; tương đương 44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện được của cả nước trong năm 2011. Cùng với sự phát triển của hệ thống các KCN là quá trình dịch chuyển lao động và các dòng di cư từ nông thôn tới các KCN. Lao động di cư đến các KCN – nơi có nhiều cơ hội việc làm, chẳng hạn như thành phố Hồ Chí Minh với tỷ suất di cư thuần (tỷ số của tổng số người nhập cư trừ đi tổng số người di cư trên tổng số dân địa phương) là 116%, Đà Nẵng là 77,9%, Đồng Nai là 64,4% và Hà Nội là 50%. Đsặc biệt nhất là tỉnh Bình Dương với tỷ suất di cư thuần lên tới 341,7% do có một số lượng lớn các KCN đóng ở đây [12].
Sự dịch chuyển của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các KCN và các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển kinh tế gia đình của số lượng lớn các gia đình có người di cư thể hiện ở số tiền gửi về. Bên cạnh những tác động không thể phủ nhận, thì quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn tới các KCN tại Việt Nam khoảng 5 năm trở lại đây bộc lộ rất nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm. Mặc dù các khu vực này phát triển nhanh chóng, nhưng quy hoạch cho các khu vực này lại chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành của Chính phủ, các đơn vị chịu trách nhiệm chuẩn bị và thực thi kế hoạch đồng thời chưa có sự phối hợp với các chủ thể của khu vực tư nhân. Kết quả là các kế hoạch được soạn thảo thiếu đi các nỗ lực đồng bộ nhằm đảm bảo đầy đủ nhà ở an toàn cho công nhân làm việc trong các nhà máy, không đảm bảo đủ các điều dịch vụ y tế và không có các địa điểm cho công nhân vui chơi.Do vậy, cần phải thay đổi, hoàn thiện hơn nữa các chính sách đối với lao động di cư từ nông thôn tới các KCN.
Việc tìm hiểu đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các KCN là cần thiết, được coi là cơ sở để thay đổi chính sách liên quan đến lao động di cư. Tác giả nhận thấy, Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều KCN đang hoạt động hiệu quả, là nơi đến làm việc lý tưởng của lao động nông thôn. Vì vậy, đề tài “Đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp” (Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) được tiến hành với hy vọng sẽ đưa ra những khuyến nghị, giải pháp góp phần nâng cao đời sống, điều kiện làm việc cho lao động di cư tới KCN Sông Công. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2.
Ý nghĩa khoa học - Đề tài góp phần bổ sung tài liệu, làm phong phú hơn những nghiên cứu về đời sống, việc làm của lao động di cư - Cung cấp những số liệu cần thiết về thực trạng đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp, làm tài liệu cơ sở cho những đề tài nghiên cứu sâu hơn về chủ đề lao động di cư. - Vận dụng một số lý thuyết xã hội học vào phân tích, giải thích các vấn đề trong việc nghiên cứu di cư 2. Ý nghĩa thực tiễn Từ những kết quả khảo sát đời sống, việc làm, đề tài đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần thay đổi chính sách hỗ trợ đối với lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, điều kiện làm việc cho lao động di cư.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề di cư là vấn đề có tính toàn cầu, ngày càng trở nên quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước. Những nghiên cứu về di cư khá nhiều. Thông qua việc tổng quan tài liệu, tác giả nhận thấy đã có các 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công trình nghiên cứu khoa học, các sách, các báo cáo, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành như tạp chí Xã hội học. đề cập đến vấn đề di cư.
Nhưng đó mới chỉ tập trung vào việc tổng quan tình hình di cư, xem xét di cư trong mối liên hệ với các vấn đề khác, và mới chỉ tập trung vào vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị, còn những đề tài lớn, nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN thì chưa có. Trong cuốn sách “Từ nông thôn ra thành phố - Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam”, chủ biên: Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm – Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (2011), đã tập trung phân tích quá trình di cư nông thôn – đô thị; tác động của di cư đối với khu vực nông thôn thể hiện qua tác động đến người di cư và hộ gia đình ở quê hương, qua vấn đề tiền gửi về nhà; tác động của di cư đối với khu vực thành thị qua việc phân tích những tương đồng và khác biệt giữa người di cư và không di cư, tình trạng sức khỏe và các hành vi liên quan, mạng lưới xã hội nông thôn – đô thị và dòng tiền gửi, đánh giá tác động của di cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành thị. Những khoảng trống chính sách đã được đề cập đến trong cuốn sách này, cụ thể là việc thiếu khung pháp lý trong việc bảo trợ xã hội cho người di cư; những rào cản thể chế về bảo trợ xã hội và chính sách xã hội cho người di cư từ vấn đệ hộ khẩu. Sách “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu”, Nhà xuất bản Thống kê (2005) giới thiệu kết quả của cuộc điều tra về di cư của Việt Nam năm 2004, trong đó đề cập tới những khó khăn mà rất nhiều người di cư gặp phải.
Kết quả điều tra cho thấy 42% những người được điều tra cho biết họ gặp khó khăn do tình trạng hộ khẩu không phải thường trú của họ. Phần lớn người di cư trong nước được thống kê trong cuộc điều tra Di cư ở Việt Nam năm 2004 là di cư vì lý do kinh tế, cụ thể là vì lý do việc làm và cải thiện đời sống. Số liệu điều tra cho thấy người dân di cư thường có thu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhập thấp hơn người không di cư, trong đó người di cư là phụ nữ hoặc là người dân tộc thiểu số là nhóm đặc biệt thiệt thòi. Người di cư thường làm tập trung trong các khu vực phi chính thức, làm các công việc được trả lương thấp và ít được bảo vệ hơn so với người dân không di cư.
Báo cáo “Tình trạng dân số thế giới năm 2011” của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã cung cấp hệ dữ liệu khá đầy đủ về tình trạng dân số thế giới, sự phân bố, sự gia tăng cũng như tác động tích cực, tiêu cực của tình trạng dân số hiện nay đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới. Báo cáo đề cập đến tác động của di cư quốc tế và di cư nội địa. Di cư quốc tế có đóng góp tích cực với người di cư, cũng như với gia đình và quốc gia có người di cư thông qua khoản tiền gửi về. Báo cáo cũng chỉ ra rằng có sự tăng đáng kể về số lượng và loại hình di cư trong nước.
Báo cáo “Xu thế tị nạn toàn cầu 2011” của Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) đề cập đến vấn đề đời sống của người tị nạn cũng như xu hướng tị nạn toàn cầu trong tương lai. Báo cáo đã cung cấp nhiều số liệu và phân tích quan trọng về tình trạng tị nạn trên thế giới hiện nay cũng như đưa ra những con số cảnh báo đối với các nhà lập pháp.