phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu thành các phần nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý đối với quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam Chƣơng 2. Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp đổi mới quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 1.1 Hoạt động sự nghiệp 1.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp Khi xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực, các lý luận gia của các nƣớc xã hội chủ nghĩa đã coi các hoạt động sản xuất là hoạt động kinh tế, các hoạt động của bộ máy nhà nƣớc là hành chính và các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, y tế, văn hóa, nghệ thuật là hoạt động sự nghiệp.
Hơn nữa, trong mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, ngoài các cơ sở sản xuất và thƣơng mại quốc doanh bao trùm quá trình tái sản xuất xã hội, Nhà nƣớc còn thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, văn hóa, y tế, nghiên cứu…Để phân biệt chức năng và cơ chế hoạt động của các loại hình đơn vị cơ sở nhƣ thế, Nhà nƣớc gọi các hoạt động sản xuất và thƣơng mại là hoạt động kinh tế, các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, nghệ thuật… là các hoạt động sự nghiệp. Từ đó cho đến nay thuật ngữ hoạt động sự nghiệp đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong các văn bản pháp lý về quản lý của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, về mặt lý luận, chƣa có công trình nào đƣa ra định nghĩa về hoạt động sự nghiệp. Theo chúng tôi, hoạt động sự nghiệp là những hoạt động do Nhà nƣớc thực hiện nhằm cung cấp những dịch vụ có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội.
Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tham gia vào quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất, nhƣng nó tác động đến lực lƣợng sản xuất và xã hội thông qua việc nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động cho nhân 5 dân, cải thiện chất lƣợng sống của con ngƣời, duy trì, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tinh thần của dân tộc, phát triển khoa học… Kết quả hoạt động sự nghiệp ảnh hƣởng đến không chỉ phát triển kinh tế mà còn đến sự phát triển xã hội và đất nƣớc.2 Đặc điểm hoạt động sự nghiệp Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng: Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ năng lao động của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khó đánh giá đƣợc giá trị kinh tế bằng tiền, nhƣng có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung, tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăng chất lƣợng sống của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại không chỉ cho ngƣời hƣởng thụ trực tiếp mà còn cho những ngƣời khác …. Nhiều sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi tăng ngƣời sử dụng mà không tăng chi phí nhƣ phát thanh, truyền hình… Nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất đƣợc thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Hoạt động sự nghiệp giáo dục, văn hóa, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lƣợng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lƣợng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con ngƣời về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống. Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp: Trong nền kinh tế thị trƣờng, một số sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cho đơn vị cung cấp.
Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn nhƣ nếu trao đổi theo nguyên tắc thị trƣờng thì nhiều ngƣời không có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến 6 khích tiêu dùng đủ mức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại hàng hóa đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nƣớc, vừa có giá trị tiến bộ và công bằng. Chính vì thế, Nhà nƣớc cần tổ chức cung ứng hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cung cấp những sản phẩm, dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ để hoàn một phần chi phí, không nhằm thu lợi nhuận. Ngoài ra, khi cung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo nguyên tắc thƣơng mại bình thƣờng, Nhà nƣớc hƣớng đến mục tiêu phân phối lại thu nhập và tăng phúc lợi công cộng. Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nƣớc mong muốn các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là hoạt động với chi phí tối thiểu.
Do đó, các biện pháp khoán kinh phí hay buộc các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán thu chi không phải là giải pháp tăng thu lợi nhuận nhƣ các biện pháp quản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải pháp quản lý khuyến khích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng lực của mình để tiết kiệm chi phí. Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước: Trong kinh tế thị trƣờng, các hoạt động sự nghiệp cũng là công cụ để Nhà nƣớc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhất là các chƣơng trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chƣơng trình dân số, kế hoạch hóa gia đình, chƣơng trình phát triển giáo dục, chƣơng trình phát triển văn hóa. Những chƣơng trình mục tiêu quốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm trong tổng thể chiến lƣợc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xã hội thì nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nƣớc giành cho các hoạt động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nƣớc cũng nhƣ mối quan hệ với các nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nƣớc.
Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự 7 nghiệp luôn thấp hơn nhu cầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các Nhà nƣớc. Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài: Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội. Đây là những sản phẩm thƣờng mang lại lợi ích cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng. Nhiều sản phẩm sự nghiệp có tác dụng lâu dài nhƣ các phát minh khoa học, các giá trị văn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động… Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệp tạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan toả và đƣợc sử dụng đi, sử dụng lại nhiều lần.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể phân loại chúng theo nhiều tiêu thức khác nhau.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các hoạt động sự nghiệp đƣợc chia thành: + Sự nghiệp kinh tế: Là hoạt động sự nghiệp nhằm phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các ngành kinh tế hoạt động bình thƣờng, thuận lợi. + Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã): Là các hoạt động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hóa, sức khỏe và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân. - Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp đƣợc chia thành: + Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là hoạt động do Nhà nƣớc đảm 8 bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính. Những hoạt động này thƣờng là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nƣớc mới có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất.
Thuộc về những hoạt động này gồm có các hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho ngƣời nghèo, đảm bảo xã hội,. + Hoạt động sự nghiệp có thu: Là những hoạt động mà nguồn tài chính đảm bảo vừa do Nhà nƣớc cung cấp, vừa do ngƣời tiêu dùng đóng góp một phần dƣới dạng phí, lệ phí. Những hoạt động này thƣờng là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống mà ngƣời tiêu dùng có thể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ, hoặc là họ muốn nhận đƣợc những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lƣợng. - Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sự nghiệp đƣợc chia thành: + Hoạt động sự nghiệp thƣờng xuyên: Là những hoạt động đƣợc tổ chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhƣ thế nào.
Thuộc về hoạt động sự nghiệp thƣờng xuyên là các hoạt động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa … + Hoạt động sự nghiệp không thƣờng xuyên: Là những hoạt động sự nghiệp để thực hiện các chƣơng trình cụ thể của Nhà nƣớc trong một giai đoạn nhất định.