Chương 1 những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý hoạt động cấp nước sạch đô thị 1. một số vấn đề chung về nước sạch và hoạt động cấp nước sạch đô thị 1. Khái niệm và tiêu chuẩn nước sạch * Khái niệm nước sạch: Nước sạch là khái niệm chung cho các loại nước dùng trong sinh hoạt, công nghiệp, công cộng. Theo nghị định 117/2007/NĐ-CP đưa ra khái niệm: nước sạch là nước đã qua xử lý có chất lượng đảm bảo, đáp ứng yêu cầu sử dụng.
* Phân loại nước sạch: Có nhiều loại nước sạch với những tiêu chuẩn tuỳ thuộc vào lĩnh vực sử dụng. - Việc phân loại nước sạch tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia cũng như xây dựng tiêu chuẩn đánh giá riêng biệt. Thông thường, nói đến nước sạch sẽ được hiểu là nước sạch dùng cho sinh hoạt và ăn uống. - Nước sạch trong các lĩnh vực cá biệt như y tế, hoá học được xây dựng theo chuẩn riêng khác với nước sạch dùng trong các lĩnh vực khác.
- Phân loại nước sạch phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học và sự phát triển kinh tế- xã hội. Mỗi quốc gia có tiêu chí phân loại nước sạch riêng biệt. * Tiêu chuẩn nước sạch - Đối với Việt Nam: Hiện tại, tiêu chuẩn nước sạch ở Việt Nam do Bộ Y tế ban hành với 112 tiêu chí xác định. Theo đó, quy định tiêu chuẩn nước dùng trong ăn uống, chế biến thực phẩm, dùng trong các cơ sở sản xuất; nước cấp theo đường ống từ nhà máy đến các khu đô thị, nước cấp theo đường ống từ trạm cấp nước tập trung dùng cho từ 500 người trở lên.
Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 505/BYT/QĐ ngày 13/4/1992 về tiêu chuẩn vệ sinh cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt với 29 tiêu chí đánh giá (xem phụ lục 1). - Đối với thế giới: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ban hành tiêu chuẩn nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt với 30 tiêu chí cơ bản. Trong 30 tiêu chí của WTO có 10 tiêu chí chưa có quy định cụ thể; các tiêu chí là thống nhất, không phân biệt thành thị, nông thôn, nước mặt, nước ngầm. So với Việt Nam tiêu chuẩn của WTO có một vài khác biệt, nhưng những tiêu chí cơ bản như độ pH, Asen , độ cặn hoà tan.
là tương đồng (xem phụ lục 2). Tiêu chuẩn nước sạch của WHO với các tiêu chí đánh giá chỉ có tính chất tham khảo; mỗi quốc gia xây dựng theo một tiêu chí riêng, tuỳ từng điều kiện, đặc điểm của mỗi nước. Qua các tiêu chuẩn nước sạch của WHO và Việt Nam cho thấy một mặt, hệ tiêu chí đánh giá thông qua các chất không hoàn toàn giống nhau; mặt khác, trong cùng một chất giống nhau nhưng hàm lượng cũng có những khác biệt nhất định. Vai trò của nước sạch đối với con người Tầm quan trọng của nguồn nước nói chung và nước sạch nói riêng không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà là vấn đề mang tính toàn cầu, là nội dung trong chương trình nghị sự, đã và đang được bàn luận sôi nổi và thu hút sự quan tâm về tình trạng cạn kiệt nguồn nước, tình trạng nước bị ô nhiễm, thiếu nước sạch ở một số nơi trên thế giới luôn là nội dung mang tính thời sự trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thế giới đã từng chứng kiến những đại dịch cướp đi sinh mạng hàng ngàn người bởi nguồn nước bị ô nhiễm hay những khó khăn mà con người phải đối mặt khi nguồn nước khan hiếm. Theo báo cáo của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt. Nguyên nhân là do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác nguồn nước dưới đất vượt mức cho phép. Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Thời gian qua, chúng ta chứng kiến những "làng ung thư " ở Phú Thọ, Hải Phòng. mà báo chí liên tục đưa tin, tình trạng nước nhiễm bẩn ở Hà Nội, Đà Nẵng. đã trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sức khoẻ, sự an toàn cá nhân và gây hoang mang trong dư luận xã hội. Hiện mức độ ô nhiễm của các dòng sông Đáy- sông Nhuệ, sông Cầu và hạ lưu sông Đồng Nai-Sài Gòn.
đang trong tình trạng báo động. Nhiều hồ nước tiềm ẩn khả năng tích luỹ ô nhiễm kim loại, các hợp chất hữu cơ ở rất nhiều nơi khiến cho nguồn nước mặt không sử dụng được. Nguồn nước dưới đất tại miền Bắc, miền Trung và mới đây là đồng bằng sông Cửu Long. cũng đang bị ô nhiễm asen một cách trầm trọng.
Chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế (IWRA) cho thấy, Việt Nam đang và sẽ thiếu nước trong tương lai gần. Do vậy, bảo vệ tài nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách được đặt ra và cần quan tâm giải quyết trong giai đoạn hiện nay. Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 cũng đã nêu rõ " bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái thuỷ sinh" là nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ chính thức. Nước không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, nói cách khác là nước vượt hàm lượng tiêu chuẩn cho phép có thể dẫn đến những tác hại trước mắt cũng như lâu dài.
Nếu như một số chất hoà tan vượt quá tiêu chuẩn có thể dẫn đến tử vong như Thạch tín, thì một số chất không gây ngộ độc hay tử vong ngay mà có thể ảnh hưởng đến các thế hệ tiếp theo đó là Mangan hay Magiê. Lượng Amôniăc hay Sulphua vượt quá quy định sẽ gây mùi khó chịu và là môi trường tốt cho vi khuẩn E.Coli gây bệnh; lượng sắt vượt quá quy định không chỉ làm hỏng quần áo khi giặt giũ mà còn làm hỏng các thiết bị liên quan đến nước, gây thiệt hại về kinh tế. Như vậy, để đảm bảo sức khoẻ của mỗi cá nhân, của cộng đồng, đảm bảo môi trường xanh, sạch thì nước ăn uống và sinh hoạt phải được cấp theo tiêu chuẩn quy định [30, tr. Hoạt động cấp nước sạch đô thị 1.
Các khái niệm liên quan đến hoạt động cấp nước sạch đô thị - Hoạt động cấp nước: là các hoạt động có liên quan trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch, bao gồm quy hoạch, tư vấn thiết kế, đầu tư xây dựng, tổ chức vận hành, bán buôn nước sạch, bán lẻ nước sạch và sử dụng nước. - Dịch vụ cấp nước: là các hoạt động có liên quan của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bán buôn nước sạch, bán lẻ nước sạch. - Đơn vị cấp nước: là tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động khai thác, sản xuất, truyền dẫn, bán buôn nước sạch và bán lẻ nước sạch. - Khách hàng sử dụng nước: là tổ chức, cá nhân và hộ gia đình mua nước sạch của đơn vị cấp nước.
- Hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh: là một hệ thống bao gồm các công trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến khách hàng sử dụng nước và các công trình phụ trợ có liên quan. - Mạng lưới cấp nước: là hệ thống đường ống truyền dẫn nước sạch từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, bao gồm mạng cấp I, mạng cấp II, mạng cấp III và các công trình phụ trợ có liên quan. - Mạng cấp I: là hệ thống đường ống chính có chức năng vận chuyển nước tới khu vực của vùng phục vụ cấp nước và tới các khách hàng sử dụng nước lớn. - Mạng cấp II: là hệ thống đường ống nối có chức năng điều hoà lưu lưọng cho các tuyến ống chính và đảm bảo sự làm việc an toàn của hệ thống cấp nước.
- Mạng cấp III: là hệ thống đường ống phân phối lấy nước từ các tuyến ống chính và các ống nối dẫn nước tới các khách hàng sử dụng nước. - Công trình phụ trợ: là các công trình hỗ trợ cho việc quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa đối với hệ thống cấp nước như sân, đường, nhà xưởng, tường rào, trạm biến áp, các loại hố van, hộp đồng hồ, họng cứu hoả. - Thiết bị đo đếm nước: là thiết bị đo lưu lượng, áp lực bao gồm các loại đồng hồ đo nước, đồng hồ đo áp lực và các thiết bị, phụ kiện kèm theo. - Vùng phục vụ cấp nước: là khu vực có danh giới xác định mà đơn vị cấp nước có nghĩa vụ cung cấp nước sạch cho các đối tượng sử dụng nước trong khu vực đó [18, tr.
- Cấp nước sạch đô thị: liên quan đến việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, quy định tại Nghị định 72/2001/NĐ-CP. Loại đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập gồm 6 loại, từ loại đặc biệt đến loại 5; cấp quản lý gồm thành phố trực thuộc trung ương, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh hoặc trung ương và thị trấn trực thuộc huyện với các tiêu chí cụ thể về mật độ dân số, quy mô dân số, kết cấu hạ tầng, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp.1: Phân loại đô thị ở Việt Nam Đô thị loại Dạng Dân số Ghi chú Đặc biệt Rất lớn Từ 1,5 triệu dân Hà Nội, Hồ Chí Minh 1 T.P trực thuộc TW 0,5- 1,5 triệu dân 3 thành phố 2 Các thành phố thuộc 250 -500 nghìn dân 12 thành phố vùng, tỉnh 3 Các thị xã tỉnh lỵ 100 - 250 nghìn 16 thị xã 4 Các đô thị loại 4 (tỉnh) 50 - 100 nghìn 58 đô thị 5 Các thị trấn 4 - 50 nghìn 612 thị trấn Nguồn [14, tr. Đặc điểm tài nguyên nước chi phối hoạt động cấp nước sạch đô thị Ngoài các đặc điểm chung về tài nguyên nước trên cả nước đó là: nguồn tài nguyên có hữu hạn nhưng nhu cầu đang tăng nhanh; chất lượng nước có nguy cơ bị ô nhiễm; tài nguyên nước không chỉ có giá trị về cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, cho tưới tiêu, mà còn là nguồn năng lượng sạch, nguồn vật liệu của rất nhiều ngành như thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp. và đặc biệt là thuỷ điện.
Đối với hoạt động cấp nước sạch đô thị tài nguyên nước là đầu vào chủ yếu, là nhân tố quyết định sự lựa chọn quy hoạch, kế hoạch khai thác, lựa chọn trình độ công nghệ. Tài nguyên nước bao gồm nước mưa, lượng trữ ẩm, nước sông, hồ, đầm lầy, nước trong lòng đất và nước ở biển. Trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập rõ thêm đặc điểm tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có liên quan đến hoạt động cấp nước sạch đô thị.