mở đầu, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế phát triển. - Nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở huy động, tập trung các nguồn lực, tăng nhanh năng lực sản xuất, đầu tư trong các ngành đòi hỏi công nghệ cao và nhu cầu vốn lớn, lĩnh vực then chốt. 12 z - Thực hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học - công nghệ, đào tạo và sản xuất, kinh doanh. - Cùng với việc tập trung mở rộng phát triển ở trong nước, các TĐKT đã vươn ra đầu tư mạnh ở nước ngoài, thương hiệu ngày càng được khẳng định, góp phần tạo dựng được hình ảnh và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
- Là lực lượng quan trọng của Nhà nước trong việc bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường. - Là lực lượng chủ lực cùng Chính phủ và xã hội thực hiện các chương trình an sinh xã hội vì cộng đồng. Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế 1. Phân loại tập đoàn kinh tế: Theo trình độ liên kết: Cartel, Trong tiếng Anh, từ “Cartel” cũng rất hay được sử dụng để chỉ khái niệm “Tập đoàn kinh tế”.
Cartel là loại hình tập đoàn kinh doanh, được hình thành bởi sự liên kết vủa các công ty hoạt động trong cùng ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên cơ sở thỏa thuận kinh tế như: thống nhất về giá cả, sản lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, phân chia thị trường đầu vào, thị trường tiêu thụ sản phẩm … nhằm hạn chế sự cạnh tranh. Trong Cartel, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý, còn tính độc lập về kinh tế bị hạn chế bởi các hợp đồng kinh tế. Hình thức Cartel thường dẫn đến độc quyền, hạnh chế cạnh tranh, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường. Ngày nay, ít tồ tại hình tức tập đoàn này.
Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát giá mua nguyên vật liệu đầu vào. Syndicate, Đây là một dạng đặc biệt của Cartel. Theo đó, trong tập đoàn dạng này có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một 13 z ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty thành viên đều phải tiêu thụ hàng hoá của họ thông qua kênh của văn phòng này. Như vậy, các doanh nghiệp thành viên giữ vững tính độc lập về sản xuất nhưng hoàn toàn mất tính độc lập về thương mại.
Tính liên kết của dạng tập đoàn này chỉ được thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm. Trust, Đây là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu thụ mà còn liên kết ở khâu sản xuất, bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất quản trị. Các doanh nghiệp thành viên bị mất quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại. Các nhà đầu tư tham gia Trust đều là những cổ đông và việc thành lập các Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu, khu vực đầu tư và nhằm thu lợi nhuận cao.
Consortium, Là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái quán trong nước và ngoài nước hoặc tiến hành công việc mua bán nào đó. Nó thường do một ngân hàng lớn đứng đầu điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này. Đây là hình thức liên kết khởi đầu của các tổ chức ngân hàng, tài chính với các doanh nghiệp sản suất, dịch vụ. Concern, Đây là một tổ chức TĐKT được áp dụng phổ biến hiện nay ở nhiều nước dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành các công ty con, mục tiêu thành lập Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro.
Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực và chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của mình, giữ tính độc lập về pháp lý nhưng phụ thuộc vào Concern về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa công ty mẹ và công ty con thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư. Conglomerate, Đây là TĐKT đa ngành, các công ty thành viên có ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ sản xuất nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt tài chính đây là một TĐKT hoạt động tài 14 z chính thông qua mua bán chứng khoán trên thị trường để đầu tư. TĐKT giữ vai trò chủ yếu là chi phối và kiểm soát tài chính chặt chẽ các công ty thành viên. Các công ty thành viên vẫn giữ tính pháp lý độc lập và tự chủ cao trong kinh doanh các sản phẩm của mình.
Đây là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh tạo lập một chùm doanh nghiệp tài chính - công nghiệp. Hỗ trợ chủ yếu của TĐKT về vốn đầu tư cho các công ty thành viên có hiệu quả cao. Công ty đa quốc gia (Transnational Corporation – TNC) là công ty tư bản độc quyền, có hoạt động sản xuất, kinh doanh trên quy mô rất lớn, vượt ra khỏi biên giới quốc gia thông qua việc thiết lập các chi nhánh (công ty con) ở nước ngoài. Các chi nhánh - công ty con có thể là công ty 100% vốn của công ty mẹ chuyển đến hoặc có tỷ lệ vốn của công ty mẹ góp với tỷ lệ ít hơn.
Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation) về bản chất cũng là công ty tư bản độc quyền, thực hiện cắm các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh quốc tế, nhưng chỉ có điểm khác biệt với công ty xuyên quốc gia ở chỗ tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của 2 hoặc nhiều nước. Theo phương thức hình thành Một là, hình thức liên kết ngang: Là cách thức các công ty trong cùng ngành liên kết với nhau theo những mục tiêu đã định trước để hình thành nên các TĐKT (Cartel, Syndicate, Trust. Các mục tiêu có thể là tập trung vốn, công nghệ, thị trường,. Với mô hình liên kết ngang, TĐKT có khả năng mau chóng tập trung được sức mạnh về vốn, công nghệ, thị trường,.
Tuy nhiên, việc đầu tư vào cùng một ngành sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và việc liên kết giữa các công ty trong cùng một ngành thường dẫn đến độc quyền, trái với pháp luật cạnh tranh của cơ chế thị trường. Do vậy, mô hình TĐKT liên kết ngang còn là mô hình phổ biến hiện nay. 15 z Hai là, hình thức liên kết dọc: Đây là hình thức TĐKT cấu trúc theo chiều dọc. Các công ty con có mối liên hệ theo quy trình công nghệ với công ty mẹ, hoặc bản thân công ty khi phát triển quy mô thành lập các công ty mới để thực hiện các hoạt động bổ sung, phụ trợ cho hoạt động hiện có của công ty.
TĐKT theo mô hình liên kết dọc có nhiều ưu thế, do nắm được cả khâu cung ứng đầu vào, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên giành được chủ động, ít bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp và khách hàng, tạo điều kiện kiểm soát được chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, bảo hộ bằng phát minh, sáng chế, bảo hộ sản phẩm mới khỏi bị cạnh tranh, tăng cường khả năng kiểm soát chi phí. Ba là, hình thức liên kết hỗn hợp: Thực tế cho thấy rằng, để đảm bảo sự phát triển bền vững, các TĐKT đều là sự kết hợp của tích tụ tập trung dọc và tích tụ tập trung ngang hay còn gọi là liên kết hỗn hợp. Theo mô hình tổ chức này, TĐKT thường kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nên TĐKT có khả năng phân tán được rủi ro về vốn đầu tư và tránh được việc vi phạm luật chống độc quyền của Chính phủ các nước. Bốn là, hình thức liên kết tự nguyện Hình thức liên kết tự nguyện giữa các công ty diễn ra khi các công ty tự nguyện đàm phán liên kết xoay quanh một công ty có tiềm lực kinh tế lớn hoặc nắm giữ khâu chủ chốt của dây chuyền công nghệ vì mục tiêu sản xuất hàng loạt trong đó, mỗi công ty thành viên sẽ đảm nhận một công đoạn nào đó trong dây chuyền sản xuất.
Năm là, hình thức liên kết bắt buộc: Hình thức liên kết bắt buộc diễn ra trong hai trường hợp sau: - Khi một công ty có tiềm lực tài chính lớn (công ty mẹ) thôn tính các công ty khác thông qua hình thức mua lại phần lớn các cổ phần để giành quyền kiểm soát trong Hội đồng quản trị của các công ty này. Với việc nắm 16 z giữ cổ phần chi phối, công ty mẹ sẽ lãnh đạo các công ty con đi theo chiến lược hoạt động chung của TĐKT. - Thông qua hình thức tổ chức lại công ty. Trong đó, một công ty có quy mô lớn tiến hành tổ chức lại theo hướng chuyển đổi thành một tổ hợp gồm một công ty mẹ và các công ty con bằng biện pháp chuyển đổi hình thức công ty và cổ phần hóa.
Theo hình thức sở hữu: Một là, các TĐKT đơn sở hữu: Đây là dạng TĐKT có nguồn gốc phát triển từ các công ty có sở hữu cá nhân hay gia đình hoặc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư 100% vốn để thành lập. Các TĐKT có nguồn gốc do Nhà nước nắm giữ 100% vốn chuyển đổi thành, trong đó có thể bao gồm một số công ty cổ phần, nhưng về tổng thể, Nhà nước vẫn nắm giữ quyền sở hữu 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần chi phối. Hai là, các TĐKT đa sở hữu: Trong quá trình phát triển, với xu hướng tích tụ và tập trung vốn giữa các công ty đơn lẻ, các TĐKT hầu như có hình thức đa sở hữu dưới dạng công ty cổ phần. Với mô hình tập đoàn đa sở hữu, TĐKT có ưu điểm là mang tính xã hội hóa cao, là điều kiện thuận lợi để huy động được nhiều vốn trong xã hội, dễ dàng mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hóa nguồn lợi nhuận và phân tán rủi ro trong kinh doanh.
Theo bản chất liên kết Một là, TĐKT được hình thành trên nguyên tắc “liên kết mềm”, hay còn gọi là tập đoàn “liên kết kinh tế”.