Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN trong các doanh nghiệp, đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, mô hình hợp tác giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề thành phố Hải Dƣơng giai đoạn 2003- 2007. Chương 3 : Đổi mới mô hình hợp tác đào tạo nguồn nhân lực KH&CN giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hải Dƣơng. Phần khuyến nghị. 9 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Nhân lực khoa học và công nghệ. Nguồn nhân lực khoa học & công nghệ. Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực xã hội là lực lƣợng lao động, những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho kinh doanh, hay còn có định nghĩa khác là toàn bộ số lƣợng ngƣời có thể làm việc khi cần thiết. Xem xét dƣới góc độ nguồn nhân lực trong quan hệ với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực tỏ rõ vai trò quyết định của mình.
Điều này thể hiện ở chỗ các nguồn lực khác nhƣ vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý. tự nó chỉ tồn tại dƣới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa khi đƣợc kết hợp với nguồn nhân lực, thông qua hoạt động có ý thức của con ngƣời. Vì con ngƣời là nguồn lực duy nhất biết tƣ duy, có trí tuệ và ý chí, biết sử dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển KT- XH và đặc biệt là CNH- HĐH.
Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con ngƣời và hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con ngƣời, nếu con ngƣời biết cách tác động và chi phối chúng. Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, trong các điều kiện để tiến hành thành công công nghiệp hoá thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò quan trọng, quyết định đối với không chỉ mỗi quốc gia, mà có nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Quan niệm cũ cho rằng sự giàu có và sức mạnh của một quốc gia, một dân tộc thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩa với sự phong phú, giàu có của các nguồn tài lực hoặc đƣợc đánh giá thông qua khối lƣợng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Còn ngày nay, nhờ những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ, sự giàu có của mỗi nƣớc không chỉ đơn giản đo bằng khối lƣợng của 10 z cải, tài nguyên thiên nhiên.
Một quốc gia nghèo về của cải tự nhiên vẫn có thể trở thành một nƣớc giàu mạnh, nếu có chiến lƣợc phát triển đúng cùng với nguồn nhân lực có chất lƣợng cao và đƣợc khai thác hợp lý, các nƣớc công nghiệp mới châu Á là những minh chứng xác thực cho điều này. Các nƣớc và vùng lãnh thổ nhƣ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Kông đều không giàu về tài nguyên thiên nhiên. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều không có mỏ than hay mỏ sắt nhƣng lại xây dựng đƣợc ngành luyện kim hùng hậu vào bậc nhất thế giới, trong khi một số quốc gia ở châu Phi có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên khoáng sản thì đến nay vẫn không xây dựng đƣợc công nghiệp luyện kim. Nguồn nhân lực của xã hội thể hiện tiềm năng của một quốc gia về con ngƣời, kể cả những ngƣời hiện tại chƣa có việc làm, thất nghiệp và cả trẻ em trong các trƣờng học.
Nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những ngƣời chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ). Nguồn nhân lực mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó. Đây chính là lý do vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lƣợc, kế hoạch phát triển nguồn lực cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức đó có thể sử dụng chúng.
Cạnh tranh để có đƣợc nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dƣới nhiều dạng khác nhau nhƣ: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ. Thuật ngữ nguồn nhân lực thƣờng đƣợc sử dụng trong quản trị nhân lực của các doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm tuyển dụng nhân lực, đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng, xây dựng kế hoạch trả công, thù lao nhằm khuyến khích ngƣời lao động. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ:: Nhân lực khoa học và công nghệ đƣợc phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực.
Đến lƣợt mình nhân lực KH&CN góp phần nâng cao chất lƣợng và số lƣợng nguồn nhân lực. Điều đó cắt nghĩa tại sao trƣớc khi đi sâu vào nghiên cứu nhân lực KH&CN chúng ta cần xem xét, khảo sát những vấn đề chung nhất về nguồn nhân lực. Trong lý luận về quản lý khoa học và công nghệ, việc xác định chính xác, hợp lý và thống nhất khái niệm “nhân lực khoa học và công nghệ” có một ý nghĩa rất quan trọng. Trƣớc tiên nó có ý nghĩa về mặt nhận thức, tạo cơ sở cho sự hiểu biết thống nhất trong phạm vi toàn xã hội; thuận lợi cho công tác quản lý, phân loại, bố trí sử dụng hợp lý; tạo cơ sở cho công tác thống kê khoa học và công nghệ.
Thuật ngữ nguồn nhân lực KH&CN ở nhiều quốc gia chủ yếu để xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực và xác định cung- cầu về nhân lực KH&CN. Nguồn nhân lực KH&CN có nhiều cách hiểu khác nhau, nhƣng đều hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ tay nghề trở lên có tham gia vào hoạt động KH&CN, thuật ngữ này đôi khi tƣơng đồng với thuật ngữ nhân lực KH&CN. Tuy nhiên, có trƣờng hợp quan niệm không tƣơng đồng bởi họ quan niệm nhân lực KH&CN bao gồm đội ngũ có trình độ và tay nghề bao gồm đang hoạt động trong nền kinh tế. Còn nguồn nhân lực KH&CN còn có thêm lực lƣợng tiềm năng về tay nghề, trình độ.
OECD coi nguồn nhân lực KH&CN tƣơng đồng với nhân lực KH&CN và bao gồm cả lực lƣợng hiện đang hoạt động cũng nhƣ ở dạng tiềm năng. Để có thể dẫn ra một khái niệm hoàn chỉnh về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cần thiết phải xem xét các môđun thành tố của hệ thống khoa học và công nghệ. Nói chung hệ thống khoa học và công nghệ bao gồm 4 môđun sau: - Tạo công nghệ. - Áp dụng công nghệ.
- Môi trường chính sách. - Cơ sở hạ tầng. 12 z Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nƣớc và nắm vững, tinh thông công nghệ nhập ngoại (thử nghiệm, thích nghi và hoạt động thương mại công nghệ). Áp dụng công nghệ là sự nắm vững thiết kế và kỹ thuật, nắm vững công nghệ, xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành để đi tới quá trình sản xuất liên tục và ổn định.
Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế. trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phƣơng tiện vật chất và chế độ kích thích. Cơ sở hạ tầng bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức tƣ vấn và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp. Khái niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ.
Theo UNESCO, nhân lực KH&CN (S&T personnel) là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên nhân lực phụ trợ. Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thƣ viện và bảo tàng, dịch vụ và hiệu đính tài liệu KH&CN, điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tƣợng kinh tế xã hội, tiêu chuẩn, chất lƣợng, dịch vụ tƣ vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng.
Trong khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng. Vì vậy, ngoài nhân lực KH&CN theo định nghĩa trên, UNESCO còn thu thập 2 nhóm số liệu khác, đó là “các kỹ sư và nhà khoa học tiềm năng” và “các kỹ thuật viên tiềm năng”, là những ngƣời nằm trong tổng vốn nhân lực hay những ngƣời thuộc lực lƣợng hoạt động kinh tế có bằng cấp của nhà khoa học/ kỹ sƣ/ kỹ thuật viên. 13 z UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. Khái niệm nhân lực KH&CN ở Việt Nam.
Ở nƣớc ta chƣa đƣa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN. Trong Luật KH&CN cũng nhƣ trong các văn bản hƣớng dẫn thống kê chƣa đề cập đến thuật ngữ này dƣới dạng một định nghĩa chính thức. Một số tác giả chia sẻ với định nghĩa của UNESCO. Số khác lại đƣa ra khái niệm nhân lực KH&CN là một bộ phận của lực lƣợng lao động xã hội đƣợc đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động KH&CN từ nghiên cứu đến triển khai, đào tạo, quản lý và vận hành công nghệ.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi thống kê nhân lực KH&CN chúng ta chƣa làm đƣợc việc thống kê theo nghề nghiệp mà mới thống kê theo trình độ đào tạo. Việc đưa ra định nghĩa nhân lực KH&CN phải xuất phát từ: - Mục tiêu của việc sử dụng định nghĩa này (để ra chính sách hay để thống kê, để lấy số liệu tính toán cung cấp và cầu nhân lực. - Khả năng thu nhập đƣợc số liệu về chúng. - Tính so sánh quốc tế.
Vì vậy, có thể sử dụng định nghĩa về nhân lực KH&CN do Tiến sỹ Nguyễn Thị Anh Thu đƣa ra để áp dụng trong điều kiện của nƣớc ta là phù hợp với các mục tiêu liệt kê trên đây.