Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng giai đoạn 2010 - 2015. Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐAN PHƢỢNG 1.
Hệ thống chính trị và đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 1. Khái niệm Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là một khái niệm hiện đại của chính trị học. Nó được hình thành trong nền chính trị hiện đại. Trong xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định.
Nghiên cứu về hoạt động của hệ thống chính trị một mặt cho thấy quyền lực chính trị đó thuộc về ai, do giai cấp nào nắm giữ, lực lượng nào chi phối, mặt khác cho thấy tính dân chủ của nền chính trị đó. Vì vậy, hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm các Đảng chính trị, Nhà nước và các Tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp.
Các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị C.Mác và Ăngghen là những người đầu tiên tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị như là một chế độ chính trị và dùng thuật ngữ như “hệ thống chính trị”, “hệ thống đẳng cấp chính trị”, “hệ thống cấp bậc về mặt xã hội và chính trị”[15, tr. Nếu xét theo nội hàm của nó thì các ông thường sử dụng thuật ngữ “cơ cấu chính trị”, “hình thức chính trị”[15, tr.16], “thiết chế xã hội và chính trị”, “cơ cấu chính quyền”[14, tr.349], “thể chế pháp luật và chính trị”[14, tr. Sau này các ông có đề cập đến một số khái niệm như “bộ máy thống trị giai cấp”, “chế độ chính trị”… Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Lênin tiếp tục hoàn thiện các quan niệm đó trong thời kỳ quá độ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lên chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, trong các bài nói, bài viết của mình V.Lênin không sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị", mà ông thay thế bằng khái niệm "chuyên chính vô sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trị của xã hội.
Trên quan điểm và lập trường của Lênin hệ thống chuyên chính vô sản bao gồm: Nhà nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn. Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị là một phạm trù rất quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị. Vì vậy, hiện nay trên thế giới quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau. Có quan điểm cho rằng “hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị”[68, tr.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các Đảng chính trị, Nhà nước và các Tổ chức chính trị -xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền, do đó nó mang bản chất, lý tưởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền. Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, ở mỗi quốc gia lại có đặc thù khác nhau, nhưng cơ bản gồm 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các Tổ chức chính trị hợp pháp. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về hệ thống chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực Nhà nước, các Đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào chính trị.) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [77, tr.
Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đảng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI(3/1989) để thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản vẫn được dùng trước đổi mới (1986) với cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Theo đó hệ thống chính trị là một phạm trù thể hiện 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thức tổng quát nhất của chính trị và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong điều kiện xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [32, tr. Về cơ bản, hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp của nhân dân. Các bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau theo nguyên tắc và cơ chế vận hành nhất định, trong đó Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò là hạt nhân của hệ thống chính trị, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của Nhà nước và xã hội.
Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới. Cụ thể nó có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Một là: Tính nhất nguyên chính trị Chế độ chính trị Việt Nam gắn với thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền. Hiến pháp năm 1980 đã quy định rõ vai trò, chức năng lãnh đạo của Đảng “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lê nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng là một bộ phận của Hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị.
Thứ hai: Tính thống nhất hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vai trò và chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất từ trên xuống. Sự thống nhất của các thành viên đa dạng và phong phú về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị. Thứ ba: Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Thứ tư: Hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả hệ thống.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ năm: Hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc. Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt lẫn nhau. Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta.
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước. Hệ thống chính trị cơ sở 1. Khái niệm Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1945, sau khi xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, hệ thống chính trị nước ta được thiết lập từ Trung ương đến địa phượng.
Theo Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đơn vị hành chính nước ta chia làm bốn cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp xã, phường, trị trấn. Cấp xã, phường, thị trấn là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở [59, tr. Hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân; là nơi triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX ghi: “Các cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống.