chương I có đề cập: Các lực lượng vũ trang Xô-viết là một bộ phận của nhân dân, giữa lực lượng vũ trang và nhân dân có sự thống nhất không gì phá vỡ nổi. Theo các tác giả, sự nhất trí giữa Quân đội và nhân dân thể hiện ở sự tham gia tích cực của Quân đội vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước, thể hiện ở những mối quan hệ rộng rải và nhiều mặt của các bộ đội và binh đoàn với các tổ chức đảng, Xô-viết, đoàn thanh niên và công đoàn, với các tập thể sản xuất của những người lao động. Về vấn đề giáo dục cán bộ,chiến sĩ về sự thống nhất giữa Quân đội và nhân dân, điểm 3 phần IV của chương ba đã xác định: Các cơ quan chính trị và các tổ chức luan an 13 đảng của Hồng quân phải làm cho lời thề “Tôi là con em của nhân dân lao động…” ăn sâu vào ý thức của mỗi chiến sĩ Hồng quân và trở thành nguyên tắc lãnh đạo trong mọi hoạt động của họ [55, tr. Theo các tác giả: để củng cố sự thống nhất giữa Quân đội và nhân dân cần có sự tham gia của tất cả mọi người dân Xô-viết vào việc nâng cao sức chiến đấu của Quân đội và hạm đội, vào việc giáo dục chính trị cho các chiến sĩ Hồng quân và coi đây là một trong những hình thức quan trọng để củng cố mối liên hệ của Hồng quân với hàng triệu quần chúng nông dân.
Chương Tư Nghị (chủ biên), Giáo trình “Công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc dùng trong các Học viện, nhà trường trong thời kỳ mới” [97]. Cuốn sách gồm 10 phần với 47 chương tổng kết kinh nghiệm giáo huấn, phản ánh quy luật khách quan, khái quát những vấn đề mang tính quy luật được rút ra từ thực tiễn; có sự sáng tạo mới trên cơ sở phát huy truyền thống tốt đẹp đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội Trung Quốc ngày càng hiện đại. Trong nội dung bàn về hoạt động “song ủng” (công tác dân vận), các tác giả khẳng định: Quân đội từ nhân dân mà ra, vì vậy, phải phục vụ nhân dân. Trong chiến tranh cách mạng trường kỳ và trong thời gian sau ngày thành lập nước, Quân đội cùng chính quyền địa phương và quần chúng nhân dân đoàn kết chặt chẽ, cùng chiến đấu, kết thành quan hệ máu thịt thân thiết, tạo nên truyền thống tốt đẹp “yêu dân, ủng hộ chính quyền và ủng hộ Quân đội” [97, tr.
Từ đó, các tác giả xác định các biện pháp tăng cường mối quan hệ quân - dân trong Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc: một mặt, Quân đội phải tích cực tham gia và giúp đỡ địa phương xây dựng XHCN. Đặc biệt là xây dựng các công trình trọng điểm, dùng những việc làm thực tế từ xây dựng văn minh vật chất XHCN để làm ảnh hưởng, tác động tốt tới quần chúng, thúc đẩy sự phát triển không ngừng của sự nghiệp xây dựng XHCN; mặt khác, phải ra sức tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, tuyên truyền ý nghĩa to lớn của việc cải cách thể chế kinh tế, phải kịp thời ca ngợi thành tích tốt của các gương điển hình, kịp thời thông báo tin tức kinh tế cho quần chúng, cung cấp viện trợ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy cải cách kinh tế, nâng cao năng suất lao động. luan an 14 Phôn Thoong Phăn Chạ Lơn Phôn, Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự “Nghiên cứu xây dựng và hoạt động của Bộ đội địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh ở Bắc Lào” [105]. Công trình đã khẳng định vị trí, vai trò công tác dân vận đối với việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh của bộ đội địa phương đồng thời phân tích đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của đất nước, của quân đội, chỉ ra phương hướng, yêu cầu công tác TT, VĐ nhân dân của bộ đội địa phương trong thời gian tới.
Đặc biệt, tác giả có nhấn mạnh các giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng trong và ngoài quân đội đối với công tác vận động quần chúng nhân dân. Sổm Vảy Nanh Xay Khun, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị “Công tác dân vận của tổ chức cơ sở Đảng bộ đội địa phương miền Nam Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [73]. Tác giả đã đánh giá Quân đội nhân dân cách mạng Lào đã có bước chuyển quan trọng về nhận thức đối với công tác TT, VĐ nhân dân; đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm và năng lực của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, tổ chức, điều hành đơn vị tiến hành công tác TT, VĐ nhân dân; tổ chức thực hiện có bước tiến bộ rõ nét-toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ hơn và ngày càng phù hợp hơn với tình hình mới; đi sâu luận giải, làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, phương pháp công tác dân vận nói chung, công tác TT, VĐ nhân dân nói riêng của bộ đội địa phương miền Nam Lào; đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên ngân, kinh nghiệm, để từ đó xác định mục tiêu, phương hướng, yêu cầu và một số giải pháp cơ bản trong công tác TT, VĐ nhân dân của các tổ chức cơ sở đảng bộ đội địa phương miền Nam Lào. Sẳn Ti Súc Canh Phu Vông, Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị “Công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay” [149].
Tác giả đã đi sâu phân tích, luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào như quan niệm, đặc điểm và những vấn đề có tính nguyên tắc công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Lào; rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất nội dung, biện luan an 15 pháp tăng cường công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Lào giai đoạn hiện nay. Hệ thống các giải pháp của Luận án có đề cập đến việc “Đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp tiến hành công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [149, tr. Trong đó nhấn mạnh đổi mới nội dung TT, VĐ nhân dân trong giai đoạn hiện nay cần tập trung làm cho mọi người nhận thức đúng và chấp hành nghiêm chỉnh mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá cách mạng Lào. Bộ đội địa phương các tỉnh cần thường xuyên quán triệt các nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, bám sát tình hình thực tiễn, nhất là tình hình địa phương và nhân dân cũng như đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị để xác định nội dung một cách kịp thời, thiết thực, sinh động, đúng định hướng.
Nội dung, hình thức tuyên truyền, vận động phải nhạy bén, năng động, thiết thực, cụ thể, gắn với quyền lợi, nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân. Các công trình khoa học tiêu biểu ở trong nước Các công trình khoa học tiêu biểu về CTDV và đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân Nguyễn Khánh, “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng-Nhà nước và nhân dân” [69]. Sau khi khẳng định: thời kỳ nào, công tác vận động và tổ chức quần chúng nhân dân làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiến lược, nhất là trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay, tác giả khẳng định tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết. Muốn vậy, công tác quần chúng của Đảng nhất định phải được đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp cho phù hợp.
Về mặt hình thức, không chỉ biểu hiện bằng công tác vận động quần chúng trực tiếp của các đảng viên và bằng các đoàn thể quần chúng do Đảng lãnh đạo mà còn thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Về mặt nội dung, công tác vận động quần chúng không chỉ là giáo dục, động viên, nâng cao giác ngộ của luan an 16 quần chúng mà còn thể hiện ở chỗ Đảng và Nhà nước chăm lo đến những quyền lợi thiết thực của nhân dân. Nguyễn Thế Trung, “Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ mới” [139]. Tác giả đề cập đến việc đổi mới phương thức lãnh của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đặc biệt, tác giả khẳng định cần xây dựng đội ngũ cán bộ có phong cách “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và thực sự là “công bộc của nhân dân”. Người cán bộ trực tiếp làm công tác TT, VĐ nhân dân phải vừa có uy tín, vừa có kỹ năng thuyết phục, kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng đồng cảm. Đặng Mạnh Trung,“Công tác vận động đồng bào công giáo của đảng bộ một số tỉnh miền Đông Nam Bộ từ năm 1986 đến năm 2006” [138]. Tác giả đã trình bày khá rõ nét về tình hình kinh tế - xã hội; tình hình công giáo và công tác vận động đồng bào công giáo của một số tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Đồng thời, tác giả nêu lên những yêu cầu đối với công tác vận động giáo hội, giáo sĩ và đồng bào công giáo; những nhiệm vụ cần tập trung trong công tác vận động đồng bào công giáo ở miền Đông Nam Bộ. Tác giả đề cập các chủ trương, nhừng thành quả và kinh nghiệm trong công tác vận động đồng bào công giáo ở Miền Đông Nam Bộ. Hoành Mạnh Đoàn,“Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay” [53]. Công trình đưa ra quan niệm về nội dung, chất lượng công tác vận động đồng bào Công giáo.
Theo tác giả, nội dung cơ bản của công tác này là tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tổ chức hướng dẫn giáo dân nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, khoa học, vận động đồng bào tham gia xây dựng hệ thống chính trị, cơ sở chính trị VMTD, tích cực tham gia các phong trào xây dựng nếp sống mới, phòng - chống tệ nạn xã hội, nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.