Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở Chương 2: Thực trạng công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Phương hướng và những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác dân vận tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh 7 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1. Khái niệm công tác dân vận chủ thể, đối tƣợng, nội dung phƣơng thức, vai trò và tầm quan trọng của công tác dân vận 1. Khái niệm công tác dân vận, đối tượng công tác dân vận 1. Khái niệm công tác dân vận Để đảm bảo cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được thắng lợi, theo C.Ăngghen có hai yêu tố cơ bản: Một là, giai cấp công nhân phải tự tổ chức ra được chính đảng độc lập.
Hai là, trong quá trình bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào cuộc cách mạng ấy, tự mình hiểu rõ đó là vấn đề gì và vì sao phải tham gia. Trong quá trình tham gia muốn cho quần chúng hiểu rõ phải làm gì, làm như thế nào, tự giác làm thì cần phải tiến hành một công tác lâu dài và kiên nhẫn, Chính vì thế họ phải tiến hành công tác dân vận. Phát triển tư tưởng của C.Ăngghen trong thời đại mới, V.Lênin đã khẳng định: “Chúng ta cần những đảng có liên quan thực tế thường xuyên với quần chúng và biết lạnh đạo quần chúng” [47, tr. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mệnh trước hết là phải làm cho dân giác ngộ” [41, tr.
Muốn làm cho dân giác ngộ “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” [41, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ [42, tr. Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ vì nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa 8 phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” [42, tr. Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong văn kiện Đại hội IX của Đảng (tháng 4 năm 2001) chính thức khẳng định quy trình công tác dân vận là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” [23, tr. Từ đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quy trình của công tác dân vận gồm bốn bước: giải thích cho dân hiểu rõ quyền lợi và nhiệm vụ của họ (dân biết); bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân (dân bàn); động viên và tổ chức toàn dân thi hành (dân làm); cùng với dân kiểm thảo, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng (dân kiểm tra) [28, tr.
Từ sự phân tích trên, có thể quan niệm: Công tác dân vận của Đảng là toàn bộ những hoạt động của Đảng nhằm tuyên truyền, vận động, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và để chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đối tượng công tác dân vận Từ nhận thức rõ vị trí, vai trò của nhân dân, công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở là tập hợp, đoàn kết lực lượng của toàn dân, phát huy sức mạnh để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đề ra để vận động nhân dân làm cách mạng, đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, mà trước hết là Đảng, vì Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Vì vậy, đối tượng của công tác dân vận cấp cơ sở là tất cả lực lượng nhân dân trên địa bàn (xã, phường, thị trấn) không trừ một ai, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo; không phân biệt tuổi tác, giới tính, cả những người có trình độ cao, cả người có học vấn thấp…[28, tr. Bên cạnh đó, đối tượng dân vận có thể là một người hoặc một tập thể cộng đồng người đa dạng, phong phú.
Tùy vào đối tượng, chúng ta linh hoạt cách thức vận động cho phù hợp. Ngày nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, dân chủ ngày càng được mở 9 rộng, đối tượng dân vận có trình độ dân trí cao hơn nhiều so với trước đây nên đòi hỏi chủ thể làm công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở thật uyển chuyển, linh hoạt, năng động, dân vận khéo. Chủ thể, nội dung, phương thức, các nhân tố tác động đến công tác dân vận của công tác dân vận 1. Chủ thể công tác dân vận Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh.) đều phải phụ trách dân vận” [42, tr.
Trong Nghị quyết Trung ương 8B (khóa VI) tháng 3 năm 1990 chỉ rõ: “Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, có sự phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách của mình” [22, tr. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục khẳng định quan điểm này và xá định cụ thể hơn: “Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị tất cả tổ chức trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên, các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu nòng cốt [7, tr. Như vậy, chủ thể công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở là tổ chức Đảng, các cơ quan của chính quyền cơ sở (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan chính quyền xã, phường, thị trấn), Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Một là, tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở) là nền tảng của đảng, là hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở cơ sở. Công tác dân vận trước hết là trách nhiệm, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng Đảng là then chốt, bên cạnh đó nắm vững nhiệm 10 vụ phát triển kinh tế là trung tâm; Đoàn kết phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của cơ sở. Mục tiêu công tác dân vận của tổ chức cơ sở đảng là tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Chăm lo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể; Củng cố mối quan hệ giữa tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở với nhân dân; Ổn định, cải thiện đời sống dân sinh, dân trí và dân chủ của nhân dân; Phát huy quyền làm chủ, trí tuệ của nhân dân tham gia xây dựng cơ sở đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; Giải quyết tốt những vấn đề trong cuộc sống của nhân dân [28, tr.
Hai là, Chính quyền cấp cơ sở: Chính quyền cấp cơ sở là nơi trực tiếp triển khai, cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước đến với nhân dân. Chính quyền cấp cơ sở thay mặt, đại diện nhân dân quản lý, giải quyết tất cả mọi vấn đề xã hội, đem lại lợi ích cho nhân dân. Tuy nhiên, chính quyền cấp cơ sở (bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cán bộ, công chức làm trong bộ máy chính quyền) phải nêu cao tinh thần phục vụ, ý thức trách nhiệm trước nhân dân, thường xuyên gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân; có như vậy, khi cụ thể các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào đời sống mới được nhân dân tiếp thu và quyết tâm thực hiện. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp và tạo điều kiện cho Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phát huy vai trò giám sát đối với hoạt động của cơ quan chính quyền.
Ba là, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân: Về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định tại Điều 1 Luật Mặt trận Tố quốc Việt Nam là: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát hy quyền làm chủ của 11 nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên” [51, tr. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là đội quân chủ lực của công tác dân vận, là sợi dây nối liền giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc vận động, tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đưa mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội. Nhân dân vừa thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện các cơ quan Nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân [28, tr.
Qua đó, chủ thể công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.