Luận án tiến sĩ đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ triết học

2015

182
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Nhóm công trình ngoài nước nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội

1.2. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội và chính sách xã hội đối với trí thức trong các trường đại học Việt Nam

1.3. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội trong Quân đội và chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

1.4. Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Đội ngũ giảng viên và chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân Việt Nam

2.2. Quan niệm và một số yếu tố tác động đến đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

3.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế về đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

4. CHƯƠNG 4: YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Yêu cầu đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.2. Những giải pháp cơ bản đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về đổi mới chính sách xã hội với giảng viên quân đội Việt Nam

Đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên quân đội Việt Nam là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong các nhà trường quân đội. Đội ngũ giảng viên không chỉ là lực lượng trực tiếp đào tạo cán bộ, sĩ quan mà còn là nguồn nhân lực trí tuệ quan trọng góp phần phát triển khoa học quân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội nhằm đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu khách quan. Các chính sách xã hội hiện hành còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm lao động trí óc, sáng tạo trong môi trường quân sự, do đó cần có sự đổi mới toàn diện và đồng bộ.

1.1. Khái quát về chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam

Chính sách xã hội cho giảng viên quân đội là hệ thống các quan điểm, chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước và quân đội nhằm đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên phát huy năng lực, sáng tạo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đây là bộ phận quan trọng của chính sách xã hội trong quân đội, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo quân sự.

1.2. Vai trò của đổi mới chính sách xã hội đối với giảng viên quân đội Việt Nam

Đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội không chỉ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần mà còn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội. Chính sách phù hợp giúp thu hút, giữ chân nhân tài, khuyến khích sáng tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

II. Phân tích các thách thức trong đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều chính sách xã hội dành cho đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Các chính sách hiện hành chưa thực sự phù hợp với đặc điểm lao động trí óc, sáng tạo trong môi trường quân sự. Việc chưa có phụ cấp đứng lớp, kinh phí nghiên cứu khoa học hạn hẹp, chính sách bảo hiểm, nhà ở còn manh mún, tuổi phục vụ ngắn dẫn đến lãng phí chất xám là những vấn đề nổi bật. Ngoài ra, việc sử dụng giảng viên chưa đúng mục tiêu đào tạo, thiếu chính sách tạo động lực phát triển tài năng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đào tạo và nghiên cứu.

2.1. Những hạn chế trong chính sách đãi ngộ và phúc lợi cho giảng viên quân đội

Chính sách đãi ngộ hiện nay chưa tương xứng với đặc thù lao động trí óc và sáng tạo của giảng viên quân đội. Thiếu phụ cấp đứng lớp, chế độ lương và thưởng chưa hợp lý, kinh phí nghiên cứu khoa học hạn chế, chính sách bảo hiểm xã hội và nhà ở còn nhiều bất cập khiến giảng viên khó yên tâm công tác và phát huy năng lực.

2.2. Vấn đề quản lý nhân sự và sử dụng giảng viên trong các nhà trường quân đội

Việc quản lý và sử dụng giảng viên chưa thực sự hiệu quả, chưa phát huy hết tiềm năng của đội ngũ. Tình trạng sử dụng giảng viên chưa đúng mục tiêu đào tạo, chưa có nhiều chính sách tạo động lực phát triển tài năng, dẫn đến hiện tượng 'chảy máu chất xám' và lãng phí nguồn nhân lực quý giá trong quân đội.

III. Phương pháp đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam hiệu quả

Đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội cần dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm lao động và yêu cầu phát triển của quân đội. Phương pháp đổi mới bao gồm hoàn thiện hệ thống chính sách đãi ngộ, tăng cường chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giảng viên; cải cách chính sách lương và thưởng; nâng cao chế độ bảo hiểm, an sinh xã hội; đồng thời đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện chính sách sao cho linh hoạt, hiệu quả và công bằng.

3.1. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và phúc lợi cho giảng viên quân đội

Cần xây dựng hệ thống chính sách đãi ngộ toàn diện, bao gồm phụ cấp đứng lớp, phụ cấp độc hại, phụ cấp trách nhiệm, chế độ lương và thưởng phù hợp với đặc thù lao động trí óc và sáng tạo. Đồng thời, nâng cao chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách nhà ở, điều dưỡng, an dưỡng nhằm đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho giảng viên.

3.2. Đổi mới chính sách đào tạo bồi dưỡng và sử dụng giảng viên quân đội

Tăng cường chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho giảng viên. Xây dựng cơ chế sử dụng giảng viên linh hoạt, phù hợp với năng lực và yêu cầu đào tạo, khuyến khích sáng tạo và phát triển tài năng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học.

3.3. Cải cách cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện chính sách xã hội trong quân đội

Đổi mới cơ chế quản lý chính sách xã hội nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện, đảm bảo tính công bằng, minh bạch và kịp thời. Tăng cường vai trò của các cấp lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chính sách trong việc nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện chính sách. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, kiểm tra để hạn chế sai sót, tiêu cực.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam

Các nghiên cứu và khảo sát thực tiễn cho thấy việc đổi mới chính sách xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chất lượng công tác của đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội. Việc áp dụng các chính sách ưu tiên đào tạo, phụ cấp đặc thù, cải cách lương thưởng và bảo hiểm đã tạo động lực tích cực cho giảng viên phát huy năng lực, sáng tạo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển quân đội hiện đại.

4.1. Kết quả thực tiễn từ các chính sách đãi ngộ và phúc lợi đổi mới

Việc áp dụng các chính sách đãi ngộ mới đã giúp cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của giảng viên quân đội. Các chính sách phụ cấp đứng lớp, phụ cấp độc hại, chế độ bảo hiểm và nhà ở được nâng cao đã tạo sự yên tâm công tác, giảm thiểu tình trạng bỏ việc và 'chảy máu chất xám'.

4.2. Tác động của đổi mới chính sách xã hội đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học

Đổi mới chính sách xã hội đã thúc đẩy giảng viên tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn và tham gia nghiên cứu khoa học. Điều này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho đổi mới chính sách xã hội với giảng viên quân đội Việt Nam

Đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quân đội. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách đãi ngộ, đào tạo, sử dụng và quản lý giảng viên sao cho phù hợp với đặc thù lao động trí óc, sáng tạo trong môi trường quân sự. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện chính sách nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ giảng viên phát triển toàn diện, góp phần xây dựng quân đội hiện đại, vững mạnh.

5.1. Tổng kết vai trò và ý nghĩa của đổi mới chính sách xã hội đối với giảng viên quân đội

Đổi mới chính sách xã hội không chỉ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần mà còn tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong quân đội. Đây là yếu tố then chốt để xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

5.2. Định hướng phát triển chính sách xã hội cho giảng viên quân đội trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách đãi ngộ, đào tạo, sử dụng và quản lý giảng viên phù hợp với đặc thù lao động và yêu cầu phát triển của quân đội. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện chính sách, đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả. Đồng thời, chú trọng phát triển môi trường làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên phát huy tối đa năng lực sáng tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/09/2025
Luận án tiến sĩ đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 10 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, vấn đề CSXH, đổi mới CSXH đối với các nhóm lao động xã hội, những ngành nghề mang tính đặc thù, đặc biệt là đổi mới CSXH đối với đội ngũ trí thức trong đó có đội ngũ giảng viên bậc đại học nhằm tạo động lực phát triển KH&CN, GD&ĐT được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm; đồng thời, nó cũng thu hút nhiều cơ quan trong và ngoài quân đội, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này. Thời gian gần đây đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CSXH; các vấn đề liên quan đến sự phát triển của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các nhà trường QĐNDVN cũng như của đất nước. Nhóm công trình nƣớc ngoài nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội - GS,TSKH.Bulannov (2003), "bản chất, nội dung và mục đích của chính sách xã hội" NXB Ezamen (ID số 05518ot01.

Tác giả công trình quan niệm, xã hội bao gồm các nhóm xã hội (số đông nhất trong giai cấp của họ). Mỗi nhóm như vậy có sự thật của riêng mình, có hình dung thế nào là tốt, là xấu trong trật tự hiện hữu, cũng như cách thay đổi trật tự đó như thế nào. Có nghĩa là trong các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, đôi khi giống nhau điều gì đó, nhưng đôi khi không thể dung hòa, thậm chí thỏa hiệp. Toàn bộ các nhóm xã hội đó là cấu trúc của xã hội.

Chính sách xã hội là quan hệ tương hỗ giữa các nhóm xã hội với lý do gìn giữ và thay đổi vị thế xã hội của nhân dân nói chung và các giai cấp, tầng lớp, xã hội, các nhóm dân số xã hội, các nhóm chuyên môn xã hội, các cộng đồng xã hội (các gia đình, dân tộc, nhân dân các thành phố, làng mạc, vùng. Chức năng của chính sách xã hội: một là, đảm bảo sự ổn định xã hội, an sinh xã hội của xã hội; hai là, đảm bảo sự vững chắc của chính quyền; ba là, đảm bảo phân phối quyền lực trong nền kinh tế (sở hữu), làm sao để đa số công nhận sự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công bằng để không xuất hiện các cuộc đấu tranh vượt khỏi vòng kiểm soát; bốn là, thành lập hệ thống phân phối các dự trữ và hiệu quả kinh tế đáp ứng yêu cầu số đông dân cư; năm là, đảm bảo môi trường ở mức cần thiết và đầy đủ cho xã hội và nhà nước; sáu là, bảo đảm cuộc sống cho xã hội ở mức cần thiết và đầy đủ cho dân chúng nói chung, cho các nhóm xã hội nói riêng. Kibakin (2011), "Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng dạy của các cơ sở giáo dục quân sự trong quân đội Nga", Luận án Tiến sĩ, Học viện Quân sự Frunze, Liên bang Nga. Luận án nêu lên vai trò của nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ giảng dạy trong các cơ sở giáo dục quân sự quân đội Nga, là nhằm bổ sung hiệu quả cho những giá trị cơ bản khác nhau như: tận tụy với nhiệm vụ, trung thành, sẵn sàng tuân thủ trình tự, sẵn sàng hi sinh.

Những giá trị ấy chỉ có được khi những cán bộ giảng dạy trong nhà trường quân sự được tôn vinh và đảm bảo chất lượng trong cuộc sống. So sánh có liên quan đến chất lượng cuộc sống của giáo viên với nhóm xã hội tương tự, như của giáo viên các trường dân sự. Ngược lại, với công việc, dịch vụ lại không có thời gian và cũng không có cơ hội hợp pháp cho thêm (trong dịch vụ) cải thiện hạnh phúc: một giảng viên quân sự không thể (và không nên) kết hợp công việc chuyên môn, công việc giảng dạy - để kinh doanh. Chất lượng cuộc sống của giáo viên trong các trường quân sự luôn phụ thuộc vào tình trạng vật chất, tinh thần của đơn vị và quyền lực của nhà nước.

Chính vì vậy, khi tính toán chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng dạy không chỉ đơn thuần là đảm bảo bằng tiền thù lao và các vật chất đảm bảo khác, mà phải đảm bảo bằng những đặc điểm của các giá trị tham chiếu trong mối quan hệ khác nhau đối với các nhóm xã hội tương đồng và các nhà hoạt động kinh tế. - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov (2007), "Triển vọng cho an sinh xã hội của người phục vụ trong quân đội Nga". Luật liên bang, 24 tháng 6 năm 2007 № 198 - FZ, Maxcơva. Theo Trung tâm Nghiên cứu Công luận All-Nga, 40% người Nga được hỏi thừa nhận rằng gia đình quân nhân hiện đang sống trong 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghèo đói, dưới mức trung bình quốc gia, gần 60% người Nga tin rằng tình hình kinh tế - xã hội của các quân nhân cao hơn mức trung bình toàn quốc.

Phân tích các dữ liệu giám sát cho phép xác định các hướng chính của chính sách xã hội quân sự đòi hỏi phải cải thiện các văn bản pháp lý: cải cách tiền lương các quân nhân; giải quyết vấn đề nhà ở các quân nhân và người dân thải ra từ các dịch vụ quân sự; cải thiện hệ thống lương hưu công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và các gia đình của các nạn nhân (chết) chiến sĩ; cải thiện y tế và điều dưỡng cho quân nhân, công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và gia đình của họ; tính hiệu quả của bảo trợ xã hội và phục hồi chức năng của các chiến binh, các gia đình các quân nhân đã chết; tạo ra các cơ chế hiệu quả để khuyến khích việc làm của nhân lực của lực lượng vũ trang; thích ứng với xã hội, đào tạo và tìm việc làm của người thải ra từ các dịch vụ quân sự. - Cơ quan nghiên cứu Ủy ban Cố vấn Ban Chính sách Quốc phòng Mỹ (2011), "Chinese military officers' wages steadily rising" (Lương sĩ quan Trung Quốc quân sự gia tăng đều đặn), Tân hoa xã, Bắc Kinh, Trung Quốc. Thông tin phản ánh, lương sĩ quan quân sự Trung Quốc đã tăng đều qua các năm qua. Một cuộc khảo sát của các sĩ quan quân đội đã cho thấy rằng vào cuối năm 2010, thu nhập bình quân hàng tháng đối với cán bộ quân sự là 5,373.14 nhân dân tệ (khoảng $ 826), cao hơn so với mức lương trung bình của năm 2005 là 2,61 lần.

Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người cho các gia đình của các sĩ quan quân đội đạt 2,637.62 nhân dân tệ, cao hơn so với con số tương tự từ năm 2005 là 2,41 lần. Các khảo sát cho thấy lương sĩ quan đang leo ở mức nhanh nhất kể từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Đồng thời, báo cáo cho biết, cuộc khảo sát, trong đó lấy mẫu 10.000 sĩ quan quân đội, cho thấy điều kiện sống cho cán bộ quân sự cũng được cải thiện đáng kể, mặc dù vợ chồng và con cái của họ vẫn đang gặp rắc rối với việc làm và giáo dục. Tương ứng, theo báo cáo của các quan chức quân sự đã cam kết sẽ tiếp tục cải thiện phúc lợi nhân viên quân sự trong năm năm tiếp theo.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Fiona Tam (2012), Mid-ranking officers get dramatic pay increase (Tăng lương cho sĩ quan phục vụ trong quân đội) http://www.it/news-en/Pay- raise-of-50-for-Chinese-soldiers-14809. Thông tin cho thấy, thu nhập trung bình hàng tháng cho cấp trung sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân đã tăng đến 5.373 nhân dân tệ (HK $ 6413), gấp 2,6 lần so với số tiền mà họ đã giành được 5 năm trước đây, theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi trụ sở của PLA. Thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình trong số 10.000 nhân viên phỏng vấn, xếp hạng từ chỉ huy đến trung úy, đã có 37% số cán bộ đã mua nhà riêng của họ, và gần 43% đã có tài khoản tiết kiệm. Khoảng 17% sở hữu xe ô tô riêng của họ, và 85% có máy tính.

Cán bộ ở các tỉnh phía Nam thu nhập nhiều hơn so với những người ở phía Tây. Cuộc điều tra cho thấy một nửa của các quan chức quân đội từ những đơn vị ở Quảng Châu có xe ô tô riêng cao hơn nhiều so với mức thu nhập trung bình. Các gia đình quân nhân đã để dành trung bình 2.703 nhân dân tệ mỗi người một tháng, 60 phần trăm còn lại dùng để mua thực phẩm và các chi phí hàng ngày. Các nhà chức trách cho rằng sự tăng trưởng thu nhập để kết nối giữa hệ thống lương quân sự với hệ thống lương đối với công chức, là cao hơn nhiều so với thu nhập người dân trung bình.

Nhóm công trình nghiên cứu trong nƣớc về chính sách xã hội và chính sách xã hội đối với trí thức trong các trƣờng đại học Việt Nam Từ sau những năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế của đất nước, theo cơ chế thị trường định hướng XHCN thì các vấn đề xã hội được đặt ra một cách cấp thiết. Có nhiều công trình đề cập đến khái niệm, vị trí, nội dung của CSXH và CSXH đối với đội ngũ giảng viên bậc đại học. Sau đây tác giả thống kê một số công trình tiêu biểu đó là: - Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1999): "Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường" NXB Thống kê, Hà Nội. Theo nhóm tác giả, nội dung CSXH của Việt Nam được thể hiện theo lĩnh vực sau: Lĩnh vực 1: Các lĩnh vực CSXH xác định theo chi ngân sách nhà nước bao gồm: Lĩnh vực xã hội: GD&ĐT; y tế - bảo vệ sức khỏe; dân số kế hoạch hóa gia 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đình; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; dịch vụ xã hội cơ bản: giáo dục cơ bản; chăm sóc sức khỏe ban đầu; sức khỏe môi trường; dinh dưỡng; sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.

Lĩnh vực 2: Các lĩnh vực CSXH xác định theo đối tượng bao gồm: Chính sách đối với phụ nữ; chính sách đối với trẻ em; chính sách đối với thanh niên; chính sách đối với dân tộc ít người; chính sách đối với người già; chính sách đối với người tàn tật; chính sách đối với người sống trong vùng gặp thiên tai; chính sách đối với thương, bệnh binh và nạn nhân chiến tranh; chính sách đối với người lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ