Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh vấn đề dân tộc - quốc gia và điều kiện hình thành quốc gia dân tộc tư bản chủ nghĩa.Ăngghen đã nghiên cứu về vấn đề dân tộc ở góc độ quá trình phát triển để hình thành dân tộc: từ thị tộc đến bộ lạc, bộ tộc rồi đến dân tộc.Ăngghen đều coi sự ra đời của dân tộc với tư cách là một cộng đồng người gắn với chủ nghĩa tư bản - dân tộc tư sản là phổ biến ở châu Âu.Ăngghen đều đề cập đến loại hình dân tộc tiền tư bản trong những trường hợp đặc thù. Một số quan điểm của C.Ăngghen về vấn đề dân tộc đã được V.Lênin đã kế thừa, bổ sung, phát triển.Lênin đã có công lao to lớn trong việc soạn thảo cương lĩnh về vấn đề dân tộc làm cơ sở, định hướng cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong thời đại tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, cả C.Lênin đều chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ về dân tộc.Ăngghen luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc và gắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp. Trong đó vấn đề công bằng và bình đẳng giữa các dân tộc được nêu lên như là một yếu tố tiên quyết khi giải quyết vấn đề dân tộc. Hai ông đã nhiều lần nhấn mạnh rằng quan hệ dân tộc là quan hệ hết sức phức tạp, khi xem xét giải quyết nó cần phải có quan điểm lịch sử 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cụ thể. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”(1848), C.Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”[34, tr.93] và các ông đã đặt ra yêu cầu đối với giai cấp công nhân mỗi nước: “.giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”[34, tr.
Trong việc giải quyết những quan hệ cơ bản của dân tộc hình thành cùng với sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Ăngghen đã đề cập đến công bằng bình đẳng giữa các dân tộc, tộc người trong mối quan hệ với vấn đề giai cấp trong xã hội và hai ông đã nhất trí cho rằng vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc chỉ được thực hiện khi thủ tiêu mọi áp bức giai cấp.Ăngghen đã chỉ rõ “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”[34, tr. Từ đó, hai ông khẳng định “Hãy xóa bỏ tình trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”[34, tr. Như vậy, ngay từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vấn đề dân tộc đã được đặt lên vị trí trung tâm trong chiến lược đấu tranh của giai cấp công nhân. Cùng với giai cấp, giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cuộc đấu tranh cách mạng.
Những quan điểm về vấn đề dân tộc của C.Ănghen đã được Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển thành những quan điểm chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc trong điều kiện đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. Trên cơ sở tư tưởng của C.Ănghen về vấn đề dân tộc, sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới cũng như cách mạng nước Nga và cả sự phân tích sâu sắc về hai xu hướng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khách quan của phong trào dân tộc trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã viết rất nhiều tác phẩm kinh điển về vấn đề dân tộc như: “Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc”, “Quyền dân tộc tự quyết”, “Cách mạng xã hội chủ nghĩa và quyền dân tộc tự quyết”, “Tổng kết cuộc tranh luận về quyền dân tộc tự quyết”,. Đặc biệt tháng 7/1920, Lênin viết sơ thảo lần thứ nhất “những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” trình bày trong Đại hội II của Quốc tế cộng sản và được Đại hội thông qua, trở thành những chính sách của Quốc tế cộng sản về vấn đề dân tộc - thuộc địa. “Cương lĩnh dân tộc” của Đảng Cộng sản với ba nội dung cơ bản: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, liên hiệp công nhân các dân tộc lại.
+ Các dân tộc có quyền bình đẳng Các dân tộc đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế. Không có đặc quyền, đặc lợi của dân tộc này đối với dân tộc khác. Lênin đã chỉ ra rằng: “nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc thiểu số…bất cứ một thứ đặc quyền nào dành cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số đều bị bác bỏ”[28, tr. Trong những quốc gia đa dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, được pháp luật bảo vệ và được thể hiện sinh động trong thực tế.
Phấn đấu để xóa đi khoảng cách, sự chênh lệch về kinh tế, trình độ phát triển giữa các dân tộc trong quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng. Trên bình diện quốc tế, bình đẳng dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sôvanh, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại áp bức bóc lột của các nước tư bản đối với các nước chậm phát triển và cả các nước thuộc địa, phụ thuộc. Điều này đòi hỏi trước hết phải thủ tiêu tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác để trên cơ sở đó, xoá bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác, tạo điều kiện để các dân tộc giúp đỡ nhau phát triển trên con đường tiến bộ. Bình đẳng giữa các dân tộc trước hết phải trên phương diện kinh tế.
Giải quyết những mối quan hệ dân tộc đều phải đặt trong mối quan hệ về lợi ích kinh tế. Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc và sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều về lực lượng sản xuất. Bất cứ đặc quyền nào dành riêng cho các dân tộc đều dẫn đến sự vi phạm lợi ích của các dân tộc khác, dẫn đến sự bất bình đẳng dân tộc. Bình đẳng về kinh tế là điều kiện thiết yếu để các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc thực hiện sự đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Bên cạnh bình đẳng về kinh tế thì bình đẳng về chính trị là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc. Đối với các dân tộc bị áp bức, thuộc địa, phụ thuộc thì việc đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị là điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng của mình trên các phương diện khác của đời sống xã hội. Lênin đã chỉ rõ vấn đề bình đẳng về chính trị liên quan đến quyền tự quyết dân tộc. Nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề bình đẳng chính trị và quyền tự quyết trong các quốc gia cụ thể nhất là các quốc gia đa dân tộc là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với giai cấp vô sản và những người mácxít chân chính.
Mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, sự kỳ thị, phân biệt, đối xử bất bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người đều là những mưu đồ chính trị của các thế lực phản động nhằm đồng hóa các dân tộc nhỏ yếu. Chủ nghĩa Mác cương quyết đấu tranh chống lại những tư tưởng trên. Trước vấn đề bình đẳng về văn hóa, Lênin cho rằng bình đẳng về văn hóa phải luôn luôn gắn liền với bình đẳng về kinh tế và về chính trị. Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc về văn hóa, trước hết phải cương quyết đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội và các hình thức tinh vi xảo quyệt núp dưới chiêu bài “tự trị dân tộc về văn hóa”, chống lại các chiêu bài mị dân thông qua khẩu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu đòi “tự trị dân tộc về văn hóa”.
Lênin đã chỉ rõ rằng chiêu bài tự trị dân tộc về văn hóa chính là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tinh vi và độc hại của giai cấp tư sản âm mưu chống lại chủ nghĩa Mác. Người viết: “đấy là kế hoạch của chủ nghĩa dân tộc tinh vi, một kế hoạch nhằm làm đồi trụy và chia rẽ giai cấp công nhân”[29, tr.168], Người cũng khẳng định: “quyền dân tộc tự trị về văn hóa", với "việc tách nhà trường khỏi sự quản lý của nhà nước" là biểu hiện của sự dốt nát thảm hại nhất. Không có nơi nào trên thế giới mà những người mác-xít (thậm chí những người dân chủ) lại phủ nhận việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ. Không có nơi nào trên thế giới mà những người mác-xít lại thông qua cương lĩnh về "quyền dân tộc tự trị về văn hóa”[29, tr.
+ Các dân tộc có quyền tự quyết Đây là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương lĩnh dân tộc của Lênin. Thực chất đây là quyền làm chủ của một dân tộc, tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình, là giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và đi theo con đường tiến bộ xã hội. Lênin chỉ ra rằng: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập về chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ. Nói một cách cụ thể, yêu sách đòi dân chủ chính trị đó có nghĩa là hoàn toàn tự do tuyên truyền cho việc phân lập và có nghĩa là giải quyết vấn đề phân lập bằng con đường trưng cầu dân ý trong dân tộc muốn phân lập.