Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Đối chiếu thuật ngữ ngoại giao trong tiếng Anh và tiếng Việt" được nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tiệp thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Quang Thiêm và TS. Phạm Thị Thúy Hồng, bảo vệ năm 2026. Công trình thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 9229020.03).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngoại giao là lĩnh vực hoạt động chuyên môn gắn trực tiếp với việc thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể của quan hệ quốc tế. Thông qua hoạt động đại diện, đàm phán, thương lượng, ký kết văn kiện, thực hiện nghi lễ và giải quyết bất đồng, ngoại giao góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì hòa bình. Cùng với sự mở rộng của quan hệ quốc tế và quá trình chuyên môn hóa, hệ thống khái niệm của ngành ngoại giao không ngừng phát triển, kéo theo nhu cầu chuẩn hóa, biên soạn từ điển và giảng dạy ngôn ngữ chuyên ngành.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành Anh - Việt đã được triển khai ở nhiều lĩnh vực như y học, khoa học hình sự, tài chính, dầu khí, xã hội học. Riêng trong lĩnh vực ngoại giao, các tài liệu hiện có chủ yếu là từ điển tra cứu thực hành (như Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt - Anh - Pháp của Dương Văn Quảng và Vũ Dương Huân, 2002; A Dictionary of Diplomacy của G. Berridge và Alan James, 2003) hoặc tài liệu nghiệp vụ biên dịch của Học viện Ngoại giao. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình chuyên biệt nào khảo sát có hệ thống và đối chiếu thuật ngữ ngoại giao (TNNG) tiếng Anh và tiếng Việt đồng thời trên hai bình diện cấu tạo và định danh; đặc biệt chưa có công trình nào kết hợp mô hình cấu tạo, đặc trưng định danh với các cơ chế ẩn dụ ý niệm trên một ngữ liệu quy chuẩn.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở tập hợp, miêu tả, so sánh và đối chiếu các TNNG được sử dụng trong tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay, tìm ra các đặc điểm tương đồng và khác biệt về mặt cấu tạo và định danh, cung cấp nguồn tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu và biên soạn từ điển chuyên ngành.

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thuật ngữ ngoại giao tiếng Anh và tiếng Việt có những đặc điểm chủ yếu nào về kiểu cấu tạo, từ loại, số lượng thành tố và mô hình cấu tạo?
  2. Hai hệ TNNG tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và khác biệt nào xét trên bình diện cấu tạo?
  3. TNNG tiếng Anh và tiếng Việt có những đặc điểm chủ yếu nào về kiểu định danh, cách thức biểu thị, đặc trưng và mô hình định danh; những miền nguồn ẩn dụ ý niệm nào được thể hiện nổi bật trong nguồn ngữ liệu khảo sát?
  4. Hai hệ TNNG tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và khác biệt nào trên bình diện định danh và trong việc sử dụng các miền nguồn ẩn dụ ý niệm được khảo sát?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ TNNG tiếng Anh (1.350 đơn vị) và TNNG tiếng Việt (1.317 đơn vị).
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn việc đối chiếu ở hai bình diện cấu tạo và định danh giữa hai hệ thuật ngữ trong trạng thái đồng đại. TNNG được xác định theo nghĩa rộng có giới hạn, bao gồm từ và ngữ định danh biểu thị các khái niệm, chủ thể, chức danh, hoạt động, quá trình, phương thức, cơ chế, văn kiện, nghi thức có quan hệ trực tiếp với hoạt động ngoại giao. Luận án loại trừ tên riêng của cá nhân, tổ chức, quốc gia, tên riêng của hiệp ước/sự kiện cụ thể và các cụm diễn ngôn nhất thời.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết thuật ngữ trên thế giới

Tác giả hệ thống hóa các hướng tiếp cận thuật ngữ học quốc tế thành bốn khuynh hướng chính:

  • Hướng truyền thống và chuẩn hóa: Khởi xướng bởi E. Wüster với Lý thuyết thuật ngữ học tổng quát (General Theory of Terminology), tập trung vào tính hệ thống, tính đơn nghĩa, quan hệ tĩnh giữa khái niệm và thuật ngữ. Hướng này được tiếp nối bởi J. C. Sager (1990) và các chuẩn quốc tế ISO 704.
  • Hướng giao tiếp về thuật ngữ: Tiêu biểu là M. T. Cabré (1999, 2003) với Lý thuyết giao tiếp về thuật ngữ (Communicative Theory of Terminology), xem thuật ngữ là đơn vị đa diện (ngôn ngữ, nhận thức, giao tiếp) vận hành linh hoạt trong văn cảnh chuyên ngành.
  • Hướng xã hội - tri nhận và dựa trên khung: R. Temmerman (2000) với Thuật ngữ học xã hội - tri nhận (Sociocognitive Terminology) nhấn mạnh tính mở của phạm trù và vai trò của ẩn dụ; P. Faber (2012) với Thuật ngữ học dựa trên khung (Frame-based Terminology); L. Alekseeva, L. Mishlanova và H. Picht (2020) với mô hình chu trình ẩn dụ.
  • Hướng đối chiếu và dịch thuật: Các công trình của N. Silaški (2009) về thuật ngữ kinh tế tiếng Anh trong tiếng Serbia và Croatia; W. Prayongsap (2011) vận dụng lý thuyết của M. Baker (1992) để phân tích chiến lược dịch thuật ngữ kinh tế Thái - Anh; M. Al-Obaidani (2018) về chuyển dịch thuật ngữ tài chính Anh - Ả Rập.

Tình hình nghiên cứu thuật ngữ tại Việt Nam

Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thuật ngữ trong nước thành ba nhóm:

  • Xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ: Đặt nền móng từ Hoàng Xuân Hãn (1942), Lưu Vân Lăng (1966, 1968), Lê Văn Thới (1970), Lê Khả Kế (1979), tiếp nối qua các công trình của Hà Quang Năng (2009), Lê Quang Thiêm (2015) và Nguyễn Đức Tồn (2016).
  • Khảo sát hệ thuật ngữ chuyên ngành đơn ngữ: Nghiên cứu thuật ngữ quân sự (Vũ Quang Hào, 1991), tin học - viễn thông (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005), sở hữu trí tuệ (Mai Thị Loan, 2012), kỹ thuật xây dựng (Vũ Thị Thu Huyền, 2013), báo chí (Quách Thị Gấm, 2015), khoa học hình sự (Nguyễn Quang Hùng, 2016).
  • Đối chiếu thuật ngữ Anh - Việt: Thuật ngữ y học (Vương Thị Thu Minh, 2005), thuật ngữ cảnh sát (Nguyễn Thị Bích Hường, 2014), khoa học hình sự (Khổng Minh Hoàng Việt, 2017), kỹ thuật thương mại (Trần Quốc Việt, 2017), tài chính (Đỗ Thị Thu Nga, 2018), hôn nhân và gia đình (Nguyễn Thị Minh Trang, 2018), dầu khí (Nguyễn Thị Thu Hà, 2019), xã hội học (Ngô Thị Thanh Vân, 2019), vũ khí (Lưu Văn Nam, 2022), quản trị chiến lược (Nguyễn Thị Thúy Hạnh, 2023).

Nghiên cứu chuyên biệt về thuật ngữ ngoại giao

  • Tài liệu tiếng Anh: Các nguồn uy tín gồm A Dictionary of Diplomacy của G. Berridge và Alan James (tái bản lần 2 năm 2003); Diplomat’s Dictionary của Chas. W. Freeman (ấn bản 1994, mở rộng năm 2010); tài liệu ABC of Diplomacy của Bộ Ngoại giao Liên bang Thụy Sĩ (FDFA, 2008); và bách khoa trực tuyến Diplomatic Encyclopedia của Bảo tàng Quốc gia về Ngoại giao Hoa Kỳ.
  • Tài liệu tiếng Việt: Đáng chú ý là Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao Việt - Anh - Pháp của Dương Văn Quảng và Vũ Dương Huân (2002) và tài liệu Những cụm từ thường gặp trong biên dịch quan hệ quốc tế của Khoa Ngoại ngữ – Học viện Ngoại giao (2008).

Khoảng trống nghiên cứu

Bảng tổng hợp từ luận án (Bảng 1.1) chỉ ra ba khoảng trống chính:

Hướng nghiên cứu Vấn đề trọng tâm Giá trị kế thừa Khoảng trống liên quan đến luận án
Thuật ngữ học truyền thống Khái niệm, hệ thống, chuẩn hóa Quan hệ thuật ngữ – khái niệm; tiêu chí thuật ngữ Chưa chú trọng đầy đủ biến thể, ngữ cảnh và cơ chế tri nhận
Lý thuyết giao tiếp về thuật ngữ Thuật ngữ trong giao tiếp chuyên môn Nhận diện giá trị chuyên ngành và tính phụ thuộc lĩnh vực Không trực tiếp giải quyết cấu tạo và định danh Anh - Việt
Thuật ngữ học xã hội - tri nhận và dựa trên khung Tổ chức tri thức, phạm trù, nhận thức Cơ sở cho phân tích định danh và ẩn dụ Chưa được vận dụng nhiều vào TNNG Anh - Việt
Nghiên cứu thuật ngữ chuyên ngành ở Việt Nam Cấu tạo, ngữ nghĩa, định danh, chuẩn hóa Khung phân tích thành tố và mô hình Chủ yếu khảo sát các lĩnh vực ngoài ngoại giao
Nghiên cứu đối chiếu Anh - Việt Cấu tạo, tương đương, chuyển dịch Phương pháp đối chiếu hai hệ thuật ngữ Ít công trình kết hợp cấu tạo, định danh và ẩn dụ ý niệm
Từ điển và tài liệu ngoại giao Tập hợp và giải thích thuật ngữ Nguồn ngữ liệu chuyên ngành Chưa phải các nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu có hệ thống

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm thuật ngữ: Luận án tiếp thu định nghĩa của Lê Quang Thiêm (2018): thuật ngữ là những từ và ngữ định danh chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm, quá trình, phạm trù, học thuyết trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ.
  • Tiêu chuẩn thuật ngữ: Dựa trên quan điểm của ISO 704, Reformatxki, Cabré, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn, luận án xác lập 3 tiêu chuẩn cốt lõi: tính khoa học (chính xác, hệ thống, ngắn gọn), tính quốc tế và tính dân tộc.
  • Khái niệm TNNG trong luận án: Là từ hoặc ngữ định danh có tính ổn định tương đối, biểu thị các khái niệm, chủ thể, chức danh, hoạt động, quá trình, phương thức, cơ chế, văn kiện, nghi thức thuộc hoặc có liên quan trực tiếp đến hoạt động ngoại giao.
  • Đơn vị cấu tạo: Tiếng Anh lấy hình vị tự do và hình vị phái sinh làm cơ sở; tiếng Việt lấy "tiếng" làm đơn vị cơ sở theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn.
  • Thành tố thuật ngữ (TTTN): Luận án kế thừa quan điểm của D. Lotte và V. Tatarinov: thành tố thuật ngữ là đơn vị hình thái hoặc từ vựng tương ứng với một khái niệm hoặc tiêu chí của khái niệm chuyên môn (ví dụ: hội nghị quốc tế gồm 2 TTTN là hội nghị và quốc tế; các hư từ như of, bằng không được tính là TTTN).
  • Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Dựa trên Lê Quang Thiêm (1989, 2004) và Bùi Mạnh Hùng (2008), luận án xác lập cơ sở đối chiếu ở hai tầng: tầng khái niệm (tri thức ngoại giao) và tầng ngôn ngữ (hệ tiêu chí hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa, định danh). Hướng đối chiếu là đối chiếu song song hai chiều độc lập, không quy đổi cơ học một ngôn ngữ thành chuẩn của ngôn ngữ kia.
  • Lý thuyết ẩn dụ ý niệm: Luận án vận dụng khung lý thuyết của Lakoff & Johnson cùng quy trình nhận diện thực nghiệm MIP/MIPVU để phân tích miền nguồn, miền đích và lược đồ ánh xạ trong TNNG.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp miêu tả: Phân tích đặc điểm cấu tạo hình thái, từ loại, số lượng thành tố và các đặc trưng định danh của TNNG trong từng ngôn ngữ.
  2. Phương pháp đối chiếu: Phương pháp hạt nhân, đặt hai hệ thống TNNG cạnh nhau trên cùng một hệ tiêu chí để chỉ ra điểm tương đồng và dị biệt.
  3. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (IC analysis): Phân tách thuật ngữ thành các thành tố cấu trúc kế cận ở từng bậc cấu tạo để xác lập mô hình tổ chức nội tại.
  4. Phân tích nhận diện ẩn dụ ý niệm: Vận dụng nguyên tắc MIP/MIPVU điều chỉnh: xác định nghĩa ngữ cảnh chuyên ngành, xác định nghĩa cơ bản, đối chiếu tương ứng, xác lập miền nguồn và quan hệ ánh xạ.
  5. Thủ pháp thống kê và mô hình hóa: Thống kê tần số xuất hiện, tỉ lệ phân bố cấu tạo, từ loại, thành tố; lập sơ đồ hóa và biểu bảng hóa các mô hình cấu tạo và định danh.

Nguồn tư liệu và quy trình xử lý ngữ liệu

Ngữ liệu được thu thập từ ba nguồn: (1) Từ điển chuyên ngành (Dương Văn Quảng & Vũ Dương Huân, 2002; G. Berridge & Alan James, 2003); (2) Giáo trình giảng dạy tại Học viện Ngoại giao; (3) Văn kiện thực tiễn (hiệp định song phương, đa phương, công hàm, thông cáo báo chí chính thức).

Quy trình thu thập và xử lý gồm 6 bước chặt chẽ:

  1. Thu thập đơn vị tiềm năng từ từ điển và văn bản thực tiễn.
  2. Kiểm tra theo tiêu chí thuật ngữ khoa học.
  3. Chuẩn hóa chính tả, chữ hoa/thường, loại bỏ trùng lặp.
  4. Xử lý hiện tượng đa nghĩa và các đơn vị liên ngành (chỉ giữ lại nghĩa ngoại giao chuyên biệt).
  5. Loại bỏ đơn vị ngoài phạm vi (danh pháp tên riêng, sự kiện lịch sử cá biệt, khẩu hiệu).
  6. Xác lập corpus chính thức gồm: 1.350 TNNG tiếng Anh và 1.317 TNNG tiếng Việt.

Đơn vị được đưa vào ngữ liệu từ nguồn mở rộng phải thỏa mãn 5 tiêu chí: cấu trúc hình thức ổn định; phản ánh đúng bản chất ngữ nghĩa chuyên ngành; có nguồn gốc từ văn bản chuẩn hóa; đạt ngưỡng phổ dụng (tần suất xuất hiện tối thiểu 5 lần trong ít nhất 3 nguồn độc lập khác nhau); bảo đảm tính hệ thống trong mạng lưới khái niệm ngoại giao.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương này thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm:

  • Tổng kết toàn diện các khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới (truyền thống của Wüster, giao tiếp của Cabré, xã hội - tri nhận của Temmerman, dựa trên khung của Faber) và tại Việt Nam (chuẩn hóa tiếng Việt, khảo sát các hệ thuật ngữ chuyên ngành, đối chiếu song ngữ Anh - Việt). Luận án chỉ ra khoảng trống về việc nghiên cứu đối chiếu TNNG kết hợp cấu tạo, định danh và ẩn dụ ý niệm.
  • Thiết lập khung lý thuyết nhất quán: định nghĩa TNNG theo nghĩa rộng có giới hạn; xác lập 3 tiêu chuẩn thuật ngữ (khoa học, quốc tế, dân tộc); phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp và từ ngữ thông thường; xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Anh (hình vị) và tiếng Việt (tiếng); vận dụng quan niệm của D. Lotte và V. Tatarinov về thành tố thuật ngữ; xác lập phương pháp đối chiếu hai chiều song song và quy trình nhận diện ẩn dụ tri nhận theo MIP/MIPVU.

Chương 2: Đối chiếu thuật ngữ ngoại giao Anh - Việt trên phương diện cấu tạo

Chương 2 tập trung khảo sát cấu trúc hình thức của 1.350 TNNG tiếng Anh và 1.317 TNNG tiếng Việt thông qua hệ thống bảng thống kê từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.16.

  • Phân loại theo dạng cấu tạo: Khảo sát tỉ lệ giữa thuật ngữ có cấu tạo là từ và thuật ngữ có cấu tạo là ngữ định danh. Ở cả hai ngôn ngữ, ngữ định danh chiếm ưu thế áp đảo do nhu cầu biểu đạt các khái niệm ngoại giao phức hợp.
  • Kiểu cấu tạo và đặc điểm từ loại của TNNG tiếng Anh:
    • Từ đơn: Chiếm số lượng hạn chế, chủ yếu là danh từ gốc chỉ các khái niệm nền tảng (state, note, envoy, protocol).
    • Từ phái sinh: Hình thành qua phương thức ghép phụ tố (tiền tố, hậu tố), đóng vai trò phân loại từ loại rõ rệt (counsellor, delegation, agreement, non-interference).
    • Từ ghép: Gồm các dạng viết liền (peacebuilding), có gạch nối (face-saver) hoặc viết rời mang tính cố kết chặt chẽ.
    • Ngữ định danh: Chiếm tỉ lệ lớn nhất, đa số có cấu trúc cụm danh từ (diplomatic relations, bilateral cooperation, permanent representative).
  • Kiểu cấu tạo và đặc điểm từ loại của TNNG tiếng Việt:
    • Từ đơn: Chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu là các động từ hoặc danh từ đơn tiết (thăm).
    • Từ ghép: Chiếm vị trí quan trọng, gồm từ ghép đẳng lập (xét xử, nhà nước) và từ ghép chính phụ (chính khách, sách trắng), trong đó từ ghép chính phụ chiếm ưu thế tuyệt đối nhờ khả năng khu biệt hóa và chuyên biệt hóa ngữ nghĩa. Luận án ghi nhận không có TNNG tiếng Việt nào cấu tạo theo phương thức láy.
    • Ngữ định danh: Chiếm tỉ lệ chi phối, cấu tạo bởi danh từ trung tâm kết hợp với các định ngữ phân loại (thăm viếng cấp nhà nước, quan hệ ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao).
  • Số lượng thành tố thuật ngữ (TTTN):
    • Đối với TNNG là từ: Tiếng Anh chủ yếu là từ có 1 đến 2 TTTN (căn tố kết hợp phụ tố phái sinh hoặc hai căn tố ghép); tiếng Việt chủ yếu là từ ghép 2 TTTN (2 tiếng).
    • Đối với TNNG là ngữ định danh: Cả hai ngôn ngữ đều phổ biến mô hình chứa 2 đến 3 TTTN. TNNG tiếng Việt có xu hướng mở rộng số lượng TTTN nhiều hơn tiếng Anh nhằm cụ thể hóa đặc trưng khái niệm.
  • Mô hình cấu tạo: Vận dụng phương pháp phân tích thành tố trực tiếp, luận án lập sơ đồ các mô hình cấu trúc từ đơn tầng đến đa tầng. Tiếng Anh thể hiện tính phân nhánh đa dạng với trật tự định ngữ đứng trước danh từ trung tâm (A + N, N + N), trong khi tiếng Việt duy trì trật tự xuôi với danh từ trung tâm đứng trước định ngữ (N + A, N + N, N + V).

Chương 3: Đối chiếu thuật ngữ ngoại giao Anh - Việt trên phương diện định danh

Chương 3 đi sâu vào cơ chế định danh của hai hệ thuật ngữ, phản ánh qua các Bảng 3.1 đến 3.14:

  • Phân loại theo phạm trù nội dung: Hệ thuật ngữ phân bố vào các nhóm khái niệm cốt lõi: chủ thể và cơ quan ngoại giao; chức danh và ngạch bậc ngoại giao; văn kiện và thư tín ngoại giao; hoạt động, thủ tục và nghi thức ngoại giao; cơ chế, nguyên tắc và luật ngoại giao.
  • Đặc điểm định danh xét theo kiểu ngữ nghĩa: Phân biệt hai phương thức:
    • Định danh trực tiếp: Sử dụng từ ngữ chỉ đúng bản chất sự vật/hoạt động không qua chuyển nghĩa (bilateral agreement - hiệp định song phương, consular assistance - hỗ trợ lãnh sự).
    • Định danh gián tiếp: Sử dụng cơ chế chuyển nghĩa, đặc biệt là ẩn dụ hóa để gọi tên các khái niệm trừu tượng.
  • Cách thức biểu thị theo lối hòa kết hay phân tích tính: Bảng 3.1 và 3.2 phản ánh sự khác biệt loại hình: tiếng Anh tận dụng cả phương thức hòa kết hình thái (phụ tố hóa) kết hợp phân tích tính, trong khi tiếng Việt thể hiện tính chất phân tích tính triệt để thông qua phương thức kết hợp từ hư và trật tự từ.
  • Đặc trưng định danh: Bảng 3.3 và 3.4 thống kê các đặc trưng khu biệt được lựa chọn làm cơ sở định danh (chủ thể tiến hành, đối tượng tác động, mục đích, phương thức, tính chất pháp lý). Hai ngôn ngữ có sự tương đồng lớn trong việc lựa chọn đặc trưng bản chất của khái niệm.
  • Ẩn dụ ý niệm trong thuật ngữ ngoại giao: Luận án xác định và xây dựng lược đồ ánh xạ cho 10 miền nguồn tiêu biểu (tương ứng từ Bảng 3.5 đến Bảng 3.14):
    1. Chiến tranh / Quân sự: Ánh xạ đàm phán ngoại giao như cuộc chiến đấu, chiến dịch đối ngoại (gunboat diplomacy - ngoại giao pháo hạm, diplomatic offensive - cuộc tấn công ngoại giao).
    2. Hành trình / Chuyển động: Ánh xạ tiến trình đàm phán hoặc thiết lập quan hệ như một con đường, bước đi (roadmap - lộ trình, breakthrough - bước đột phá, setback - bước thụt lùi).
    3. Xây dựng / Kiến trúc: Ánh xạ quan hệ ngoại giao hoặc trật tự quốc tế như công trình kiến trúc (architecture of security - kiến trúc an ninh, bridge-building - bắc cầu quan hệ, foundation - nền tảng).
    4. Không gian / Địa hình: Ánh xạ phạm vi tác động ngoại giao như vùng lãnh thổ, không gian tọa độ (diplomatic arena - vũ đài ngoại giao, common ground - điểm tương đồng/mặt bằng chung).
    5. Thời tiết / Nhiệt / Tự nhiên: Ánh xạ mức độ căng thẳng hoặc nồng ấm của quan hệ qua nhiệt độ và thời tiết (thaw in relations - sự tan băng quan hệ, political climate - bầu không khí chính trị, cold war - chiến tranh lạnh).
    6. Kinh tế / Thị trường: Ánh xạ ngoại giao như việc trao đổi hàng hóa, mặc cả, tính toán chi phí - lợi ích (bargaining chip - con bài mặc cả, political capital - vốn liếng chính trị).
    7. Con người: Nhân hóa quan hệ hoặc tổ chức ngoại giao qua cơ thể và hành vi người (goodwill - thiện chí, recognition - sự công nhận, dialogue - đối thoại).
    8. Trò chơi: Ánh xạ hoạt động ngoại giao như bàn cờ, ván bài chiến lược (diplomatic chess - ván cờ ngoại giao, zero-sum game - trò chơi tổng bằng không).
    9. Dòng chảy / Chất lỏng: Ánh xạ tiến trình giao lưu ngoại giao như dòng nước, sự lưu thông (channel of communication - kênh đối thoại, flow of information - dòng thông tin).
    10. Gia đình / Quan hệ xã hội: Ánh xạ mối quan hệ bang giao như quan hệ gia đình, thân tộc (sister city - thành phố kết nghĩa, family of nations - đại gia đình các dân tộc).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Là công trình chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam tiến hành khảo sát và đối chiếu toàn diện hệ thống TNNG tiếng Anh và tiếng Việt trên cả hai bình diện cấu tạo hình thức và định danh ngữ nghĩa.
  • Cung cấp bức tranh phân bố định lượng cụ thể về kiểu cấu tạo từ, từ loại, số lượng thành tố và các mô hình cấu trúc của hai hệ thuật ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau (ngôn ngữ hòa kết và ngôn ngữ đơn lập).
  • Làm sáng tỏ các cơ chế định danh chuyên ngành ngoại giao, đặc biệt là việc hệ thống hóa 10 miền nguồn ẩn dụ ý niệm tham gia vào quá trình tri nhận và cấu tạo thuật ngữ ngoại giao Anh - Việt.
  • Bổ sung tư liệu thực nghiệm có độ tin cậy cao, góp phần củng cố lý thuyết thuật ngữ học, ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu và ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam.

Đóng góp về thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng một tập ngữ liệu gồm 1.350 TNNG tiếng Anh và 1.317 TNNG tiếng Việt được sàng lọc theo các tiêu chuẩn khoa học minh bạch.
  • Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học phục vụ trực tiếp công tác biên soạn, chỉnh lý và bổ sung các cuốn từ điển thuật ngữ ngoại giao song ngữ Anh - Việt, Việt - Anh đạt chuẩn quốc tế.
  • Hỗ trợ công tác chuẩn hóa thuật ngữ đối ngoại tại Bộ Ngoại giao và các cơ quan ban ngành liên quan, giúp cán bộ ngoại giao và dịch giả lựa chọn đơn vị tương đương chính xác, nhất quán.
  • Gợi mở phương pháp giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành ngoại giao và nghiệp vụ biên - phiên dịch văn kiện đối ngoại tại Học viện Ngoại giao cùng các trường đại học ngoại ngữ.
  • Đề xuất giải pháp cho công tác hoạch định chính sách ngôn ngữ: vừa tiếp thu chuẩn mực quốc tế của thuật ngữ ngoại giao tiếng Anh, vừa bảo tồn tính dân tộc và sự trong sáng của tiếng Việt chuyên ngành đối ngoại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án chỉ khảo sát hệ TNNG trên trục đồng đại ở thời điểm hiện tại, chưa đi sâu nghiên cứu lịch đại để thấy sự biến đổi hình thức và nghĩa của thuật ngữ ngoại giao qua từng thời kỳ lịch sử.
  • Ngữ liệu loại trừ danh pháp tên riêng (quốc gia, tổ chức quốc tế, địa danh hội nghị) và các khẩu hiệu chính trị nhất thời; do đó, bức tranh ngôn ngữ đối ngoại thực tế ở cấp độ diễn ngôn rộng hơn chưa được bao quát toàn diện.
  • Trong phân tích hình thái học tiếng Anh, một số dạng viết tắt do tính chất đặc thù không thể phân tích trực tiếp số lượng TTTN bề mặt nên buộc phải loại khỏi tập dữ liệu phân tích thành tố trực tiếp.
  • Luận án tập trung vào bình diện cấu tạo và định danh, chưa mở rộng thành một nghiên cứu ngữ dụng học hoặc phân tích diễn ngôn ngoại giao chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phân tích TNNG trong các thể loại diễn ngôn đối ngoại cụ thể (diễn văn ngoại giao, thông cáo chung, biên bản đàm phán) dưới góc độ ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn phê phán (CDA).
  • Khảo sát lịch đại quá trình du nhập, dịch thuật và Việt hóa các thuật ngữ ngoại giao phương Tây vào tiếng Việt từ thời kỳ cận - hiện đại đến nay.
  • Mở rộng phạm vi đối chiếu TNNG tiếng Việt với các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh, như tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Nga.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học:
    • Tham khảo khung phân tích đối chiếu song song hai chiều và quy trình 6 bước xử lý ngữ liệu thuật ngữ.
    • Vận dụng mô hình nhận diện ẩn dụ ý niệm theo MIP/MIPVU trong nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành (Chương 3).
  • Học viên, giảng viên chuyên ngành Ngoại giao và Quan hệ quốc tế:
    • Nắm vững cấu trúc, thành tố và nghĩa chuyên ngành của 1.350 TNNG tiếng Anh và 1.317 TNNG tiếng Việt phục vụ học tập và nghiên cứu.
    • Sử dụng hệ thống thuật ngữ được đối chiếu làm tài liệu tra cứu chuẩn xác trong dịch thuật văn kiện, công hàm và hiệp định quốc tế.
  • Biên tập viên, chuyên viên biên tập từ điển và người làm chính sách:
    • Kế thừa hệ tiêu chí 5 điểm lựa chọn TNNG để xây dựng các cuốn từ điển song ngữ, bách khoa toàn thư chuyên ngành.
    • Làm căn cứ chuẩn hóa tên gọi chức danh, quy trình lễ tân và văn kiện ngoại giao trong hệ thống văn bản pháp quy nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát quy mô ngữ liệu bao nhiêu đơn vị và thu thập từ những nguồn nào?
Luận án khảo sát tập ngữ liệu chuẩn hóa gồm 1.350 TNNG tiếng Anh và 1.317 TNNG tiếng Việt. Ngữ liệu được thu thập từ ba nguồn: từ điển chuyên ngành ngoại giao (Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt - Anh - Pháp của Dương Văn Quảng & Vũ Dương Huân; A Dictionary of Diplomacy của G. Berridge & Alan James); giáo trình nghiệp vụ ngoại giao tại Học viện Ngoại giao; và các văn bản thực tiễn (hiệp định song phương, đa phương, công hàm, thông cáo báo chí chính thức).

2. Tác giả luận án định nghĩa "thuật ngữ ngoại giao" như thế nào và tiêu chí lựa chọn ngữ liệu ra sao?
Tác giả xác định TNNG theo nghĩa rộng có giới hạn: là từ hoặc ngữ định danh có tính ổn định tương đối, biểu thị các khái niệm, chủ thể, chức danh, hoạt động, quá trình, phương thức, cơ chế, văn kiện, nghi thức có quan hệ trực tiếp với hoạt động ngoại giao. Để được đưa vào corpus, đơn vị từ nguồn văn bản thực tiễn phải đạt tần suất xuất hiện tối thiểu 5 lần trong ít nhất 3 nguồn độc lập khác nhau, đồng thời thỏa mãn các tiêu chí về tính ổn định cấu trúc và nội dung chuyên ngành. Các tên riêng của cá nhân, tổ chức, quốc gia và sự kiện cụ thể đều bị loại trừ.

3. Đơn vị phân tích cấu tạo thuật ngữ được luận án xác định theo quan điểm nào?
Luận án tiếp thu quan điểm của D. Lotte và V. Tatarinov: thành tố thuật ngữ (TTTN) là đơn vị tương ứng với một khái niệm hoặc tiêu chí của khái niệm chuyên ngành, không chia nhỏ cơ học theo âm tiết thuần túy. Ví dụ, cụm hội nghị quốc tế gồm 2 TTTN là hội nghị và quốc tế. Trong tiếng Anh, đơn vị cấu tạo dựa trên hình vị tự do và hình vị phái sinh; trong tiếng Việt, đơn vị cơ sở là "tiếng" theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn. Các hư từ như of hoặc bằng không được tính là TTTN.

4. Những miền nguồn ẩn dụ ý niệm nào được tác giả nhận diện nổi bật trong thuật ngữ ngoại giao Anh - Việt?
Tác giả nhận diện và xây dựng lược đồ ánh xạ cho 10 miền nguồn ẩn dụ ý niệm nổi bật (tương ứng từ Bảng 3.5 đến Bảng 3.14): (1) Chiến tranh / Quân sự; (2) Hành trình / Chuyển động; (3) Xây dựng / Kiến trúc; (4) Không gian / Địa hình; (5) Thời tiết / Nhiệt / Tự nhiên; (6) Kinh tế / Thị trường; (7) Con người; (8) Trò chơi; (9) Dòng chảy / Chất lỏng; (10) Gia đình / Quan hệ xã hội.

5. Phương pháp đối chiếu của luận án được tiến hành theo nguyên tắc nào?
Luận án áp dụng phương pháp đối chiếu song song hai chiều trên cùng một hệ tiêu chí chung (tertium comparationis). Tác giả tiến hành miêu tả độc lập hệ TNNG tiếng Anh và TNNG tiếng Việt trước, sau đó mới đặt kết quả của hai hệ vào quan hệ so sánh để tìm điểm tương đồng và khác biệt, không lấy một ngôn ngữ làm chuẩn tuyệt đối để tìm đơn vị tương đương cơ học ở ngôn ngữ kia.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đối chiếu thuật ngữ ngoại giao trong tiếng Anh và tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Văn Tiệp là công trình nghiên cứu chuyên biệt khảo sát toàn diện hệ thống thuật ngữ ngoại giao Anh - Việt trên cả hai bình diện cấu tạo và định danh. Bằng việc xử lý nghiêm ngặt ngữ liệu gồm 1.350 thuật ngữ tiếng Anh và 1.317 thuật ngữ tiếng Việt qua quy trình 6 bước, tác giả đã chỉ ra các quy luật tổ chức hình thái, mô hình cú pháp và 10 miền nguồn ẩn dụ ý niệm chi phối hoạt động định danh chuyên ngành. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các đặc trưng loại hình ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu mà còn cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ biên soạn từ điển, chuẩn hóa ngôn ngữ đối ngoại và nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành ngoại giao tại Việt Nam.