CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÐỔI MỚI, DOANH NGHIỆP SPIN-OFF 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm về đổi mới Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học Schumpeter (1911) nghiên cứu sự khác biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới). Đến năm 1939, Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng sản xuất mới, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới, mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo phương thức mới hoặc tiến hành sự kết hợp mới.
Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh tế tri thức mới hoặc sự kết hợp mới của những tri thức đang có. Bên cạnh đó ông cũng phân biệt các loại đổi mới: đổi mới quy trình (công nghệ và tổ chức) và đổi mới sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ). Ngược lại với cách tiếp cận tuyến tính trong đó quá trình đổi mới phát triển qua những giai đoạn theo trật tự thời gian và tiệm tiến (từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất sản phẩm/dịch vụ và thị trường…), một số học giả đã vận dụng cách tiếp cận mới: cách tiếp cận hệ thống. Cách tiếp cận hệ thống nhấn mạnh tầm quan trọng của những hợp phần khác nhau và sự tương tác giữa các hợp phần đó trong toàn bộ hệ thống diễn ra quá trình đổi mới.
Ở đây, thuật ngữ “đổi mới” không đồng nghĩa với thuật ngữ “nghiên cứu” hoặc “chu trình công nghệ”. Đổi mới vượt ra ngoài phạm vi NC&TK và bao gồm nhiều hoạt động, cả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp, thương mại hóa công nghệ, hoạt động sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ mới trên thị trường. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo đuổi lợi nhuận của các doanh nghiệp và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới được thị trường chấp nhận.1 Tóm lại, đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đổi mới được đăng tải trên các tài liệu quốc tế và trong nước nhưng nhìn chung, các cách tiếp cận này đều dẫn đến điểm chung về đổi mới, đó là đưa ra được sản phẩm/quy trình mới hay sản phẩm /quy trình được cải tiến mang lại lợi ích trên thị trường. Với cách hiểu như vậy thì định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 2005 có thể xem là khá đầy đủ 2: Đổi mới không chỉ đơn thuần là đổi mới công nghệ mà có thể là đổi mới sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) hoặc quy trình (công nghệ và tổ chức) bao gồm các sản phẩm và quy trình mới hay các sản phẩm và quy trình được cải tiến.
Việc đổi mới sản phẩm và quy trình được thực hiện nếu nó đưa được sản phẩm mới ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong quy trình sản xuất (đổi mới quy trình). Đổi mới sản phẩm và quy trình bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại. Doanh nghiệp thực hiện đổi mới sản phẩm và quy trình là đơn vị đã thực hiện các sản phẩm hoặc quy trình mới hoặc cải tiến đáng kể trong khoảng thời gian nhất định. Để đổi mới thành công (đưa sản phẩm mới/được cải tiến ra thị trường hoặc quy trình mới/được cải tiến áp dụng trong sản xuất), doanh nghiệp cần thực hiện nhiều hoạt động khác nhau tuỳ thuộc vào bản chất của đổi mới đó.
Sản phẩm của quá trình đổi mới Một sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ được xem là đổi mới một khi sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình công nghệ mới đã ra khỏi phòng thí nghiệm, được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận, được mua - bán và sử dụng trong xã hội. Sản phẩm của quá trình đổi mới được hình thành theo một quá trình: từ khi tạo ra sáng chế và qua các hoạt động thử nghiệm, chế tạo, sản xuất 1 Nguyễn Mạnh Quân: Đề tài cấp cơ sỏ “Nghiên cúu nhận dạng hệ thống quốc gia về đổi mới của Việt Nam” 2 Hoàng Văn Tuyên: Đề tài cấp cơ sở” Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới” 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để biến sáng chế từ chỗ chỉ là ý tưởng, những bản vẽ trở thành những sản phẩm và dịch vụ mới được mua bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận. Mục đích cuối cùng của đổi mới là đưa ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới được người sử dụng chấp nhận, trong khi sáng chế công nghệ chỉ được xem như là phương tiện, là một trong số nhiều điều kiện cần để tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới. Theo tổ chức OECD “Các sản phẩm hay quy trình công nghệ mới chỉ được coi là được thực hiện nếu như đã được thị trường chấp nhận hoặc được sử dụng trong quá trình sản xuất”.
Hoạt động đổi mới Hoạt động đổi mới là một hoạt động tổng thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ NC&TK đến thiết kế, chế tạo, sản xuất, thương mại hóa, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm mới và dịch vụ mới trên thị trường. Hoạt động đổi mới bao gồm các hoạt động NC&TK và ngoài NC&TK. Trong phạm vi của hoạt động đổi mới, ranh giới giữa các loại hoạt động không những không còn mà hơn thế, chúng tự liên kết, đan xen, lồng ghép và tích hợp với nhau một cách hữu hiệu để có thể tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới được xã hội và thị trường chấp nhận.3 Điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động KH&CN với hoạt động đổi mới là ở chỗ: Nếu đầu ra của các hoạt động KH&CN là các phát minh, sáng chế thì đầu ra của các hoạt động đổi mới là các sản phẩm, dịch vụ mới được xã hội và thị trường chấp nhận. Chính vì vậy, việc đòi hỏi các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới đem lại hiệu quả kinh tế cao khó có thể được đáp ứng, trừ khi các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đó được đặt trong hệ thống của các hoạt động đổi mới và có cơ chế bảo đảm cho các hoạt động đổi mới diễn ra và phát huy tác dụng.
Hoạt động đổi mới không chỉ bó hẹp và kết thúc khi đưa ra được ý tưởng và các thiết kế công nghệ trong phòng thí nghiệm hoặc các sáng chế công nghệ được đăng ký và cấp bằng. Hoạt động đổi mới còn tiếp diễn kể từ khi các sáng chế công nghệ được ứng dụng vào sản xuất cho đến khi đưa ra được những sản phẩm hoặc dịch vụ mới được thị trường chấp nhận. 3 Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 5/2008 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chính sách đổi mới Về đại thể, chính sách đổi mới là một tập hợp có hệ thống các biện pháp chính sách để điều tiết có hiệu quả các hoạt động đổi mới.
Chính sách đổi mới có thể hiểu là những can thiệp của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thúc đẩy cho sự thay đổi kinh tế có lợi nhất, khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, hình thành những ý tưởng mới và hiện thực hoá những ý tưởng mới này thành các sản phẩm, quy trình và dịch vụ. Chính sách đổi mới là những chính sách tác động đến những quyết định của doanh nghiệp để phát triển, thương mại hoá và thực hiện những công nghệ mới.4 Khi xem xét quá trình phát triển chính sách đổi mới của mỗi quốc gia, người ta thường căn cứ vào một số vấn đề cơ bản như: i) Quá trình hoạch định và điều phối chính sách đổi mới; ii) Môi trường có lợi cho đổi mới; iii) Truyền bá tri thức và công nghệ trong nền kinh tế và iv) Phát triển nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách đổi mới không thuần túy là một chính sách mới, mà là tập hợp có hệ thống các chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách giáo dục, chính sách khoa học và công nghệ… Nếu tập hợp đó không có tính hệ thống thì không thể nói đến chính sách đổi mới. Hệ thống đổi mới quốc gia Theo định nghĩa của OECD, hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)5 là một hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước và tư nhân, thực hiện các hoạt động nhằm nghiên cứu, du nhập, cải tiến và phổ biến các công nghệ mới.
Trong NIS, các doanh nghiệp công và tư, các trường đại học và các cơ quan của Chính phủ tương tác với nhau nhằm hướng đến sự phát triển của KH&CN trong phạm vi quốc gia. Tính tương hỗ của các đơn vị này có thể 4 Mowery: 1992 5 Nguồn: Research Policy, 2/2002 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là về mặt kỹ thuật, thương mại, luật pháp và tài chính, nhằm những mục đích phát triển, bảo trợ hay thực hiện các hoạt động KH&CN. NIS cũng có thể được hiểu như là một tập hợp các cơ quan, tổ chức và các cơ chế chính sách tương tác lẫn nhau nhằm theo đuổi các mục tiêu KT-XH bằng việc áp dụng các thành quả KH&CN. Theo OECD, có 4 điểm quan trọng sau cần phải lưu ý: - Cần có một tập hợp các cơ quan và tổ chức, cơ chế chính sách hiệu quả xét theo chức năng của một NIS; - Cần có sự tương tác hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức và các chương trình hành động; - Đảm bảo sự hài hoà và đồng thuận trong các mục tiêu và tầm nhìn; - Đảm bảo một môi trường chiến lược riêng tạo thuận lợi cho đổi mới.
Cơ sở hạ tầng cho đổi mới Cơ sở hạ tầng đổi mới là một hệ thống tổng thể bao gồm các tổ chức, tác nhân liên quan như tổ chức NC&TK, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp, các tập đoàn, các tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ, trung tâm thông tin và tư vấn các lĩnh vực đổi mới cho doanh nghiệp, công viên khoa học, vườn ươm và một số hình thái tổ chức khác là những tổ chức trung gian.