Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác cụm đền và lễ hội đền tại Tràng Kênh - Minh Đức - Thủy Nguyên phục vụ phát triển du lịch" được sinh viên Phạm Thị Ngân (lớp VH1401, ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Vũ Thị Thanh Hương.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện đại, du lịch đã trở thành nhu cầu phổ biến và là một trong những tiêu chí phản ánh chất lượng đời sống của người dân. Thành phố Hải Phòng vốn sở hữu tiềm năng du lịch đa dạng với các trọng điểm nổi tiếng như Đồ Sơn, Quần đảo Cát Bà, cùng các sự kiện lễ hội quy mô như Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn hay Lễ hội Hoa Phượng Đỏ. Trong bức tranh chung đó, huyện Thủy Nguyên được xác định là vùng đất giàu truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước, sở hữu mật độ di tích đậm đặc với các địa danh lịch sử tiêu biểu như đình Kiền Bái, đình Đồng Lý, chùa Linh Sơn, chùa Mỹ Cụ. Đặc biệt, khu vực Tràng Kênh thuộc thị trấn Minh Đức gắn liền trực tiếp với dòng sông Bạch Đằng lịch sử – nơi ghi dấu các chiến công thủy chiến hiển hách của dân tộc qua các thời kỳ.

Mặc dù địa danh Tràng Kênh có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, song các công trình đền thờ tại đây đối với du khách thập phương (nhất là khách ngoại tỉnh) vẫn là điểm đến khá mới mẻ. Công tác quản lý và khai thác các giá trị lịch sử, kiến trúc, tâm linh tại cụm di tích và lễ hội phục vụ hoạt động du lịch còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Từ thực tiễn đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học và thực tiễn cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 nội dung trọng tâm:

  1. Tổng quan về tình hình khai thác các đền và lễ hội đền phục vụ hoạt động du lịch.
  2. Đánh giá thực trạng và khả năng khai thác cụm đền cùng lễ hội đền tại Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên) phục vụ hoạt động phát triển du lịch.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm khai thác hiệu quả, bền vững các giá trị của cụm đền và lễ hội Tràng Kênh phục vụ du lịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cụm di tích các ngôi đền tại thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên (bao gồm: Đền thờ Đức Vua Lê Đại Hành, Đền thờ Đức Thánh Trần - Hưng Đạo Đại Vương, Đền thờ Đức Vương Ngô Quyền, Đền thờ Tướng quân Trần Quốc Bảo) và Lễ hội đền Tràng Kênh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài giới hạn tại cụm di tích và lễ hội thuộc thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Về thời gian thực hiện, đề tài được giao ngày 02/04/2014 và hoàn thành nghiệm thu trước ngày 30/07/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hóa. Khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khoa học văn hóa và du lịch nhân văn:

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm về đền và tín ngưỡng thờ thần của người Việt: Tác giả làm rõ bản chất công trình đền là nơi thờ cúng thần thánh hoặc các danh nhân quá cố có công lớn với dân tộc (nhân thần và thiên thần). Hệ thống thần linh được phân cấp thành các bậc Phúc thần (Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần) gắn với quan niệm tôn vinh Thành hoàng làng và tinh thần bảo trợ cộng đồng làng xã.
  • Lý luận về kiến trúc đền truyền thống: Khái quát các quy chuẩn kiến trúc cổ truyền người Việt, sự ảnh hưởng của thuyết phong thủy (thế đất, minh đường, tả thanh long, hữu bạch hổ), cấu trúc mặt bằng công trình (kiểu chữ Đinh 丁, chữ Nhị 二, chữ Công 工, chữ Tam 三) với các phân khu tiền đường, trung đường, chánh điện và hậu cung; cấu trúc mái cong mô phỏng hình thuyền úp mang triết lý hướng thiên và giải thoát trong văn hóa phương Đông.
  • Hệ thống biểu tượng học và đồ thờ tự: Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người - đồ thờ - thần linh theo trục tung và trục hoành trong không gian linh thiêng; giải mã ý nghĩa văn hóa của các linh vật (Tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng; chim Hạc), các họa tiết nhật - nguyệt, hoa sen, hoa đào, hoa cúc, mây ngũ sắc.
  • Cấu trúc lễ hội truyền thống: Khung phân tích lễ hội cổ truyền cấu thành từ hai bộ phận hữu cơ: phần "Lễ" (tính chất linh thiêng, nghi thức tế lễ, ban tế, rước thần, tế nhập tịch, tế rã đám) và phần "Hội" (sinh hoạt diễn xướng, trò chơi dân gian, tính cố kết cộng đồng).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp ba phương pháp nghiên cứu thực tế:

  1. Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại quần thể di tích Tràng Kênh và thị trấn Minh Đức để ghi nhận hiện trạng cảnh quan, quy mô kiến trúc, không gian bài trí đồ thờ, tuyến đường tham quan và cơ sở hạ tầng du lịch.
  2. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Tiếp cận, khai thác nguồn tư liệu lịch sử, sách báo khoa học, hệ thống bản đồ, số liệu lưu trữ từ Thư viện thành phố Hải Phòng, tài liệu quản lý của Ban quản lý cụm di tích Tràng Kênh và văn bản hành chính của địa phương.
  3. Phương pháp xã hội học (phỏng vấn sâu): Trực tiếp tiếp xúc, phỏng vấn các vị thủ từ trông coi đền, người dân địa phương và các cán bộ phụ trách để thu thập tư liệu lịch sử truyền miệng, giai thoại xây dựng và phong tục sinh hoạt tín ngưỡng tại chỗ.
Phương pháp nghiên cứu Kỹ thuật thực hiện Nguồn dữ liệu khai thác
Điền dã thực địa Quan sát trực tiếp, đo đạc mô tả không gian, chụp ảnh khảo sát Quần thể cụm đền Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức
Xử lý tài liệu Phân tích - tổng hợp tư liệu thứ cấp, văn bản học thuật Thư viện Hải Phòng, hồ sơ di tích, tài liệu BQL
Xã hội học Phỏng vấn sâu bán cấu trúc, trao đổi chuyên sâu Thủ từ đền, nhân chứng địa phương, cán bộ văn hóa

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình khai tác các đền và lễ hội đền phục vụ du lịch

Chương 1 đóng vai trò xây dựng hệ thống nền tảng lý luận về tín ngưỡng thờ tự và kiến trúc truyền thống của người Việt, gồm các luận điểm then chốt:

  • Khái quát đối tượng tôn thờ: Phân loại đối tượng được phụng thờ thành thiên thần (lực lượng siêu nhiên bảo hộ mùa màng, trừ tai ương) và nhân thần (các anh hùng, nghĩa sĩ, danh nhân có công đánh giặc, mở mang bờ cõi hoặc truyền nghề cho dân). Hệ thống Phúc thần phân cấp theo sắc phong: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Phân tích chức năng văn hóa của đền so với đình làng và miếu mạo, mối liên hệ mật thiết giữa tín ngưỡng thờ thần và ý thức cội nguồn dân tộc.
  • Đặc điểm kiến trúc và bài trí: Đền đài người Việt mang kết cấu bộ khung gỗ chịu lực, mái cong vút thanh thoát biểu thị khát vọng thoát tục, khác biệt với vòm parabol đóng kín của kiến trúc tôn giáo phương Tây. Bố cục mặt bằng tuân theo thế phong thủy và các dạng kết cấu kinh điển (chữ Đinh, chữ Công, chữ Tam). Đồ thờ được bài trí lớp lang nghiêm ngặt từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao (bàn thờ, nhang án, bát bửu, chấp kích, linh vật).
  • Ý nghĩa các biểu tượng văn hóa:
    • Hình tượng Rồng: Đại diện cho cội nguồn Rồng Tiên, vương quyền tối thượng và thần linh điều hòa nguồn nước nông nghiệp.
    • Hình tượng Rùa và Hạc: Biểu trưng cho sự trường tồn, bền vững; sự kết hợp "Hạc đứng lưng Rùa" phản ánh thế cân bằng trời - đất, âm - dương hòa hợp.
    • Hình tượng Lân và Phượng: Biểu thị thái bình thịnh trị, phẩm hạnh tôn quý và lòng nhân từ.
    • Mô típ Nhật - Nguyệt, Mây ngũ sắc và Thảo mộc (Sen, Cúc, Đào): Chuyển tải triết lý phồn thực, cầu mong quốc thái dân an, mùa màng bội thu và đạo hạnh thanh tịnh.
  • Cấu trúc nội dung lễ hội đền: Phân tích chi tiết quy trình phần Lễ (chuẩn bị ban tế, chọn người tế lễ nghiêm ngặt, thực hiện tuần tế nhập tịch, dâng lễ vật, đọc chúc văn ca tụng công đức tiền nhân, tế rã đám) và phần Hội (không gian mở dành cho hội thi sới vật, thi pháo, bịt mắt bắt dê, hát đối giao duyên, giao lưu thương mại địa phương).

Chương 2: Đánh giá cụm đền và lễ hội đền ở Tràng Kênh phục vụ phát triển du lịch

Chương 2 là nội dung thực chứng trọng tâm của khóa luận, phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và khảo tả hiện trạng quần thể di tích:

  • Điều kiện địa bàn Thủy Nguyên và thị trấn Minh Đức:
    • Huyện Thủy Nguyên sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch phong phú với 147 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 28 di tích cấp thành phố và 23 di tích cấp quốc gia (tiêu biểu như đình Kiền Bái, đền thờ Trần Quốc Bảo); nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc như hát Chèo, Hát chầu văn, Ca trù và đặc biệt là Hát Đúm; các làng nghề truyền thống gồm đúc đồng Mỹ Đồng, cau Cao Nhân, hương Kiền Bái.
    • Thị trấn Minh Đức là địa bàn công nghiệp nằm ở phía Đông Bắc huyện Thủy Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên là 1.381,43 ha; quy mô dân số trên 3.000 hộ với 13.650 nhân khẩu; cơ cấu hành chính gồm 12 tổ dân phố (Phượng Hoàng, Hoàng Long, Hoàng Tôn, Quyết Thành, Thắng Lợi, Chiến Thắng, Quyết Hùng, Quyết Tâm, Quyết Tiến, Quyết Thắng, Đà Nẵng, Bạch Đằng). Địa bàn sở hữu vị trí giao thương thủy bộ chiến lược và quốc phòng - an ninh quan trọng.
  • Khái quát lịch sử di tích Tràng Kênh:
    • Về khảo cổ học: Tràng Kênh là di chỉ xưởng chế tác đồ trang sức bằng đá lớn nhất vùng Đông Bắc Tổ quốc có niên đại gần 4.000 năm trước (thuộc sơ kỳ thời đại kim khí), sản phẩm từng được trao đổi xuyên biên giới sang Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
    • Về quân sự - lịch sử: Nơi đây là căn cứ chiến lược gắn liền với 3 đại thắng thủy chiến trên sông Bạch Đằng: năm 938 (Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán), năm 981 (Lê Đại Hành phá tan quân Tống), và năm 1288 (Trần Hưng Đạo tiêu diệt đạo thủy binh Nguyên Mông). Khu vực lưu dấu các địa danh lịch sử như núi U Bò, Hoàng Tôn, Phượng Hoàng, sông Quán Đá, Áng Hồ, Áng Lác. Di tích được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 1962.
  • Khảo tả các công trình đền thờ:
    • Đền thờ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương): Nằm tựa lưng vào núi đá Tràng Kênh, mặt hướng ra sông Bạch Đằng. Đền khởi công ngày 09/09/2008 trên khuôn viên khoảng 20 ha; quá trình thi công hoàn thành trong 99 ngày với sự tham gia của 200 thợ; vật liệu đá chuyển từ Ninh Bình. Cổng tam quan bằng đá liền khối cao 10m, cấu trúc 3 tầng mái chồng diêm, chạm họa tiết "lưỡng long triều nhật" và tứ quý; sân tế lễ rộng 300 m² lát gạch đỏ. Kết cấu mặt bằng đền theo kiểu chữ Đinh (丁), cửa gỗ lim chạm khắc nổi. Gian cung cấm đặt tượng đồng Đức Thánh Trần và bài vị gia tiên; trung đường đặt bàn thờ tướng sĩ cùng hàng chấp kích uy nghiêm; bức đại tự chính diện mang dòng chữ "Sơn thủy lưu đức".
    • Đền thờ Đức Vua Lê Đại Hành và Đền thờ Đức Vương Ngô Quyền: Cùng nằm trong quần thể quy hoạch hài hòa, mô phỏng phong cách kiến trúc cổ truyền, kết nối bằng trục đường gạch lát và hệ thống cây xanh, mở ra không gian tưởng niệm các vị anh hùng dân tộc.
    • Đền cổ thờ Tướng quân Trần Quốc Bảo: Tọa lạc khiêm nhường dưới chân núi Hoàng Tôn, phối thờ vị tướng trẻ lập nhiều công lao trong trận chiến Bạch Đằng 1288. Đây là ngôi đền cổ bảo lưu tính chất sinh hoạt tín ngưỡng dân gian cộng đồng lâu đời của cư dân bản địa.
    • Chùa Tràng Kênh Trúc Lâm: Hoàn thiện không gian văn hóa tâm linh Phật giáo gắn với truyền thống Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong tổng thể di tích.
  • Đánh giá giá trị và thực trạng du lịch:
    • Hệ thống di tích mang 4 giá trị cơ bản: Giá trị lịch sử sâu sắc, giá trị cố kết cộng đồng, giá trị văn hóa tâm linh và giá trị nghệ thuật kiến trúc cảnh quan.
    • Tác giả phân tích cụ thể các ưu thế về phong cảnh "sơn thủy hữu tình", không khí trong lành, sự linh thiêng; đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn: công tác xúc tiến quảng bá chưa mạnh, giao thông tiếp cận nội bộ còn hạn chế, các dịch vụ du lịch bổ trợ nghèo nàn, thiếu sự gắn kết thành các tour tuyến chuyên nghiệp.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khai thác có hiệu quả cụm đền và lễ hội Tràng Kênh nhằm phục vụ phát triển du lịch

Từ các phân tích thực trạng, Chương 3 đưa ra các định hướng ứng dụng mang tính khả thi:

  • Nhóm giải pháp khai thác di tích và lễ hội:
    • Cải tạo và bảo vệ môi trường: Giữ gìn hệ sinh thái núi đá và mặt nước sông Bạch Đằng, kiểm soát tác động bụi khói từ các nhà máy công nghiệp lân cận (như Nhà máy xi măng Hải Phòng), bố trí hệ thống thu gom rác thải và nhà vệ sinh đạt chuẩn.
    • Tuyên truyền, quảng bá hình ảnh: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xuất bản ấn phẩm thuyết minh, phối hợp với các cơ quan truyền thông trung ương và địa phương quảng bá thương hiệu di tích lịch sử Bạch Đằng - Tràng Kênh.
    • Bảo tồn, tôn tạo di tích: Tuân thủ nghiêm ngặt Luật Di sản văn hóa, bảo tồn nguyên trạng các dấu tích khảo cổ và cảnh quan thiên nhiên, việc tu bổ công trình tâm linh phải đảm bảo tính chân xác văn hóa.
    • Đào tạo nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức lịch sử, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cho đội ngũ thuyết minh viên, thủ từ và cán bộ quản lý di tích tại cơ sở.
    • Xây dựng chế tài, quy định cụ thể: Thiết lập nội quy ứng xử văn minh du lịch đối với khách thập phương; kiểm soát hoạt động đổi tiền lẻ, chèo kéo khách, mê tín dị đoan; ràng buộc trách nhiệm của cộng đồng cư dân sở tại trong giữ gìn an ninh trật tự.
  • Kiến nghị đối với các cấp quản lý:
    • Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng: Đưa Tràng Kênh vào quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố, hỗ trợ ngân sách xúc tiến và kết nối doanh nghiệp lữ hành.
    • Đối với Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Thủy Nguyên: Tăng cường kiểm tra, định hướng tổ chức phần lễ và hội chuẩn mực, bảo tồn di sản hát Đúm gắn với không gian lễ hội.
    • Đối với chính quyền thị trấn Minh Đức: Quản lý chặt chẽ mặt bằng đất đai, bảo đảm an ninh trật tự, phối hợp hài hòa giữa sản xuất công nghiệp và khai thác du lịch bền vững.
  • Thiết kế tour du lịch mẫu: Đề xuất phương án tour kết nối cụ thể: Tuyến nội huyện Thủy Nguyên (Đình Kiền Bái - Làng nghề Mỹ Đồng - Quần thể Tràng Kênh - Sông Bạch Đằng) và tuyến liên vùng kết nối nội thành Hải Phòng với các điểm di tích lịch sử ven sông Bạch Đằng (Quảng Ninh).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu thực tế và đưa ra các đóng góp cụ thể:

Số liệu thực tế được hệ thống hóa trong văn bản

  • Hệ thống hóa tư liệu hành chính và địa lý thị trấn Minh Đức: diện tích 1.381,43 ha; dân số hơn 3.000 hộ với 13.650 người; phân bổ trên 12 tổ dân phố cụ thể.
  • Số liệu kiểm kê di sản văn hóa huyện Thủy Nguyên: toàn huyện có 147 di tích lịch sử - văn hóa (gồm 28 di tích cấp thành phố, 23 di tích cấp quốc gia).
  • Số liệu kỹ thuật và lịch sử xây dựng Đền thờ Đức Thánh Trần tại Tràng Kênh: khởi công ngày 09/09/2008, thi công hoàn tất trong 99 ngày với lực lượng 200 thợ xây dựng; khuôn viên quy hoạch khoảng 20 ha; cổng tam quan đá khối cao 10 m; sân tế lễ có diện tích 300 m².
Chỉ tiêu / Công trình Dữ liệu ghi nhận trong văn bản
Diện tích tự nhiên thị trấn Minh Đức 1.381,43 ha
Quy mô dân số thị trấn Minh Đức Trên 3.000 hộ gia đình; 13.650 nhân khẩu (12 tổ dân phố)
Tổng số di tích lịch sử huyện Thủy Nguyên 147 di tích (28 di tích cấp thành phố; 23 di tích cấp quốc gia)
Quy mô khuôn viên Đền thờ Đức Thánh Trần Khoảng 20 ha
Thời gian thi công Đền thờ Đức Thánh Trần Khởi công 09/09/2008; hoàn thành trong 99 ngày; 200 thợ xây
Kích thước Tam quan & Sân tế đền Trần Cổng tam quan đá nguyên khối cao 10 m; Sân đại lễ 300 m²

Đóng góp khoa học và thực tiễn của tác giả

  • Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu sớm ở bậc đại học tiếp cận toàn diện cụm di tích đền Tràng Kênh dưới góc độ khoa học Văn hóa Du lịch, kết hợp giữa khảo tả di tích kiến trúc tâm linh mới xây dựng với giá trị khảo cổ 4.000 năm và truyền thống quân sự Bạch Đằng.
  • Phân tích rõ cấu trúc biểu tượng học truyền thống (Tứ linh, hoa sen, hoa cúc, hoa đào, nhật - nguyệt) áp dụng trong công trình kiến trúc đền Tràng Kênh, làm cơ sở khoa học cho công tác thuyết minh du lịch văn hóa.
  • Đề xuất được hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ và phác thảo mô hình tour du lịch thực tế, có thể chuyển giao làm tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lữ hành tại Hải Phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra những giới hạn nhất định do điều kiện thực hiện:

  • Hạn chế của đề tài: Tác giả tự nhìn nhận về thời gian nghiên cứu thực địa còn ngắn và hiểu biết cá nhân còn giới hạn; nguồn tài liệu thống kê chuyên sâu về lượng khách du lịch, cơ cấu chi tiêu và doanh thu dịch vụ cụ thể tại di tích chưa được bóc tách định lượng chi tiết do cụm đền thời điểm năm 2014 vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục hoàn thiện, mở rộng các hạng mục tôn tạo.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát xã hội học định lượng diện rộng về mức độ hài lòng của du khách; đánh giá sức chứa môi trường sinh thái và tác động qua lại giữa phát triển công nghiệp nặng (xi măng, khai thác đá) tại Minh Đức với việc bảo tồn cảnh quan di tích Tràng Kênh; xây dựng chiến lược xúc tiến sản phẩm du lịch tâm linh kết nối vùng di sản chiến thắng Bạch Đằng giữa Hải Phòng và Quảng Ninh.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo thực chứng cho sinh viên ngành Văn hóa Du lịch, Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, Việt Nam học khi nghiên cứu về phương pháp tiếp cận di tích lịch sử và lễ hội truyền thống phục vụ phát triển sản phẩm du lịch.
  • Cơ quan quản lý văn hóa - du lịch địa phương: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Thủy Nguyên và UBND thị trấn Minh Đức trong việc quy hoạch bảo vệ cảnh quan, xây dựng quy chế quản lý dịch vụ và quản lý du khách tại Tràng Kênh.
  • Doanh nghiệp lữ hành và hướng dẫn viên: Các nội dung khảo tả chi tiết về lịch sử các trận chiến Bạch Đằng, ý nghĩa biểu tượng kiến trúc và không gian thờ tự trong đền Tràng Kênh là nguồn tư liệu chuẩn mực phục vụ xây dựng bài thuyết minh tuyến điểm du lịch Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu những công trình kiến trúc tín ngưỡng cụ thể nào tại thôn Tràng Kênh?
Khóa luận tập trung nghiên cứu 4 ngôi đền chính: Đền thờ Đức Vua Lê Đại Hành, Đền thờ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), Đền thờ Đức Vương Ngô Quyền, Đền cổ thờ Tướng quân Trần Quốc Bảo (dưới chân núi Hoàng Tôn), cùng công trình Chùa Tràng Kênh Trúc Lâm nằm trong quần thể.

2. Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tại Tràng Kênh có thông số xây dựng như thế nào theo văn bản?
Ngôi đền được khởi công ngày 09/09/2008 và hoàn thành sau 99 ngày với sự tham gia của 200 thợ; vật liệu đá chuyển từ Ninh Bình; khuôn viên rộng khoảng 20 ha; cổng tam quan bằng đá liền khối cao 10 m với 3 tầng mái chồng diêm; sân tế lễ rộng 300 m²; kết cấu đền mang hình chữ Đinh; chính điện có bức đại tự "Sơn thủy lưu đức".

3. Tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn của huyện Thủy Nguyên và thị trấn Minh Đức được tác giả thống kê ra sao?
Huyện Thủy Nguyên có 147 di tích lịch sử - văn hóa (28 cấp thành phố, 23 cấp quốc gia), có nghệ thuật Hát Đúm, Hát chèo, Ca trù, các làng nghề đúc đồng Mỹ Đồng, cau Cao Nhân, hương Kiền Bái. Thị trấn Minh Đức có diện tích 1.381,43 ha, trên 3.000 hộ với 13.650 nhân khẩu, phân bổ tại 12 tổ dân phố, sở hữu di chỉ khảo cổ học xưởng đá 4.000 năm và quần thể di tích Bạch Đằng được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962.

4. Vì sao tác giả cho rằng các ngôi đền tại Tràng Kênh là điểm đến "vừa cũ vừa mới"?
Vùng đất Tràng Kênh - Bạch Đằng là địa danh lịch sử "cũ" với 4.000 năm dấu ấn khảo cổ và hơn 7 thế kỷ chiến công chống ngoại xâm, có ngôi đền cổ thờ Trần Quốc Bảo từ xa xưa; tuy nhiên, các công trình đền thờ quy mô lớn phụng thờ Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo mới được đầu tư xây dựng khang trang từ năm 2008 trở lại đây nên vẫn còn mới mẻ đối với nhiều khách du lịch ngoại tỉnh.

5. Tác giả đã đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào ở Chương 3?
Năm nhóm giải pháp chính gồm: (1) Cải tạo và bảo vệ môi trường di tích; (2) Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá hình ảnh; (3) Bảo tồn tôn tạo di tích đúng quy chuẩn; (4) Đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại chỗ; (5) Xây dựng chế tài, quy chế văn minh du lịch đối với khách tham quan và người dân địa phương; đồng thời thiết kế tour du lịch kết nối cụ thể.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Ngân là công trình khảo cứu công phu, hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, khảo cổ học, nghệ thuật kiến trúc và tín ngưỡng tâm linh tại cụm đền Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng). Tác giả đã kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận văn hóa dân gian với khảo sát điền dã thực tế, phân tích rõ thực trạng khai thác du lịch tại địa phương năm 2014. Hệ thống giải pháp và kiến nghị được xây dựng có tính logic, thiết thực, góp phần gợi mở định hướng bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững trên vùng đất lịch sử Bạch Đằng.