CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY ĐIỆN 1.1 Tổng quan về hệ thống thủy điện ở Việt Nam 1.1 Tiềm năng của thuỷ điện Việt Nam Việt nam có tiềm năng to lớn về thuỷ điện chạy theo suốt toàn bộ đất nước. Nếu khảo sát trên 2200 con sông có chiều dài lớn hơn 10km thì tổng tiềm năng về thuỷ điện ở đất nước ta theo lý thuyết đạt khoảng 300 tỉ kWh/năm và tổng tiềm năng về thuỷ điện có tính khả thi cũng đạt khoảng 80- 100 tỉ kWh/năm với tỉ lệ công suất là 18. Tại thời điểm hiện nay, tổng công suất của các nhà máy thuỷ điện đã được khai thác ở nước ta là 4. Hệ thống sông ngòi tiêu biểu ở vùng Bắc Bộ nơi có tiềm năng về thuỷ điện được đại diện bởi Sông Lô, Sông Gâm, Sông Chảy và Sông Đà, các sông đó sau cùng hợp nhất thành Sông Hồng và chảy vào Vịnh Bắc Bộ.
Các sông ngòi tiêu biểu ở vùng Bắc Trung Bộ là Sông Mã và Sông Cả. Ở vùng ven biển miền Trung, có Sông Vu Gia – Thu Bồn ở Quảng Nam, Sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi và Sông Ba ở Phú Yên. Có Sông Xê Xan chạy dọc theo biên giới giữa Căm Phu Chia và vùng Trung Bộ. Hệ thống sông ngòi tiêu biểu cho vùng Nam Bộ là sông Đông Nai.1: Tiềm năng về thuỷ điện có tính khả thi của các sông chính ở nước ta được miêu tả trong Tên Sông Công suất có tính Ước tính sản Tỉ lệ phần khả thi (MW) lượng điện năng trăm (%) (Tỷ KWh) Sông Lô, 820 3,159 4,6 Gâm, Chảy Sông Đà 7.345 31,196 41,5 SVTH: Hồ Minh Lý 3 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Sông Mã 542 2,026 3,1 Sông Cả 398 1,555 2,2 Sông 282 1,17 1,6 Hương Sông Vu 1.119 4,299 6,3 Gia – Thu Bồn Sông Trà 135 0,625 0,8 Khúc Sông Ba 709 3,095 4,0 Sông Xê 1.736 8,265 9,8 Xan Sông 702 3,325 4,0 Srepok Sông Đồng 2.790 11,518 15,8 Nai Tổng cộng 16.578 70,233 93,7 của 11 sông ở trên Tổng cộng 17.700 82,0 100 trên toàn bộ đất nước Nguồn: Báo cáo phân tích ngành điện Việt Nam là một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi có hệ thống sông ngòi phong phú, đa dạng trải khắp chiều dài đất nước nên rất thuận lợi cho việc phát triển thủy điện.
SVTH: Hồ Minh Lý 4 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Bảng 1.2: Bảng sơ lược phân phối các con sông và thủy điện ở ba miền của Việt Nam Vị trí Tên sông Nhà máy thủy điện Miền sông Hồng, các nhánh sông Lô Hòa Bình (1920 MW), Thác Bắc Gâm - Chảy, hệ thống sông Mã Bà (108 MW), Tuyên Quang và sông Cả (342MW). Miền sông Vũ Giá - Thu Bồn, sông Sê Yali (720 MW), Đa Nhim Bắc San và Srepok (cao nguyên miền (160MW), Hàm Thuận (330 Trung), sông Ba (duyên hải miền MW), Đa Mi(175MW) , Đại Trung) Ninh (300 MW), Vĩnh Sơn (66MW), Sông Hinh (70 MW), Sê San 3 (260 MW). Miền sông Mê Kông, sông Đồng Trị An (400 MW), Thác Mơ Nam Nai (150 MW), Cần Đơn (78 MW) Nguồn: Báo cáo phân tích ngành điện Ngành thủy điện không có chi phí cho nhiêu liệu, có mức phát thải thấp và có thể thay đổi công suất nhanh theo yêu cầu phụ tải. Tuy nhiên, ngành có chi phí đầu tư ban đầu cao, thời gian xây dựng lâu và là nguồn bị động nhất_ phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết.
Trong trường hợp hạn hán kéo dài, lượng mưa giảm, làm lượng tích nước tích trong hồ thấp hơn so với năng lực thiết kế, ảnh hưởng lớn tới sản lượng điện sản xuất của nhà máy. Ngoài ra, các thiên tai như lũ quét và mưa lớn có thể gây thiệt hại về đường xá và các công trình đê đập của nhà máy, gây ra sự cố trong việc phát điện và tăng chi phí sửa chữa. Ngành thủy điện đang chiếm 35-40% trong tổng công suất phát của hệ thống điện Việt Nam. Tuy nhiên trong năm 2010, mức đóng góp vào sản lượng điện chỉ đạt mức khiêm tốn là 19% do tình trạng hạn hán kéo dài khiến các mực nước tại các hồ thủy điện xuống thấp kỷ lục, sát với mực nước chết (Thác Bà còn 0.5 m, Thác SVTH: Hồ Minh Lý 5 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Mơ còn 0.
Do vậy, kết quả kinh doanh của các công ty thủy điện trong 9 tháng đầu năm 2010 không khả quan.3: Ưu và nhược điểm của các nguồn điện. Các nguồn điện Ưu điểm Hạn chế - Chi phí đầu tư ban đầu -Không phải chi phí cho cao. nhiên liệu - Ảnh hưởng đến cân -Mức phát thải thấp. Thủy điện bằng sinh thái.
-Có thể thay đổi công suất - Là nguồn bị động nhất nhanh theo yêu cầu phụ - Thời gian xây dựng tải. Chi phí thường xuyên cao hơn thủy điện nhưng thấp hơn các Có chi phí đầu tư ít hơn nguồn khác. thủy điện Tác động tới môi Nguồn tương đối ổn định, Nhiệt điện trường. không phụ thuộc vào thời Than, dầu khí không tiết phải là tài nguyên dồi Thời gian xây dựng nhanh dào.
Thay đổi công suất chậm. Chi phí đầu tư và chi Nguồn ổn định phí thường xuyên cao. Về mặt chi phí, điện hạt Ở nước ta nguồn vốn và nhân có chi phí cạnh tranh nhân lực thiếu. Điện nguyên tử với nhiệt điện (trong Việc xử lý rác thải hạt trường hợp phải nhập nhân, nếu không làm tốt khẩu) khi hệ số công suất sẽ ảnh hưởng tới môi trên 75%.
trường và cuộc sống môi trường. Thân thiện với môi trường. Chi phí đầu tư cao. Việt nam dồi dào nguồn Cần có khoa học công Năng lượng mới năng lượng thiên nhiên.
nghệ hiện đại để thu Các dạng năng lượng này được năng lượng. không cần nhập khẩu và có thể sử dụng dài lâu. Điện xuất khẩu Chi phí đầu tư thấp. Chi phí mua điện cao.
Nguồn: Báo cáo phân tích ngành điện SVTH: Hồ Minh Lý 6 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Tiềm năng về thủy điện trên tất cả các hệ thống sông của Việt Nam khoảng 123 tỉ kWh/năm tương đương với khoảng 31. Hiện nay, các công trình thuỷ điện đã khai thác được khoảng 4.800 MW, chiếm hơn 50% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia (khoảng 12.000 MW) và mới khai thác được 16% tiềm năng thủy điện. Theo quy hoạch phát triển điện Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010, định hướng 2020 các lưu vực sông lớn nước ta có tổng tiềm năng thuỷ điện (tại các vị trí có thể khai thác với công suất lắp máy lớn hơn 30 MW) đạt 15.374 MW, tương đương sản lượng điện khoảng 66,9 tỉ kWh/năm, các lưu vực sông nhỏ và trạm thuỷ điện với công suất lắp máy dưới 30 MW ước tính chiếm khoảng 10% công suất của các trạm có công suất lớn hơn 30 MW, tương tương khoảng 1.2 Tình trạng hiện nay của thuỷ điện ở Việt Nam Thuỷ điện là một trong những nguồn năng lượng chủ yếu ở Việt Nam và đến cuối năm 2001 thì tổng công suất đặt của các nhà máy thuỷ điện là 4.115 MW và sản lượng điện năng vào khoảng 18 tỷ kWh chiếm gần 51% tính theo kWh, 49% tính theo kW (theo tổng công suất). Các Nhà máy Thuỷ điện hiện có được nêu trong bảng 1.3 và sản lượng điện năng trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2001 được nêu trong bảng 1.4 Các nhà máy Thuỷ điện hiện có ở Việt Nam [1] Tên Miền lãnh thồ Công suất đặt Năm đưa vào vận Ghi chú NMTĐ hành Thác Bà Miền 120 MW 1971 Bắc Hòa Bình Miền 1.920 1988 Bắc MW Yaly Miền 720 MW 2000 Trung Vĩnh Sơn Miền 66 MW 1994 Trung Sông Miền 70 MW 2000 Hinh Trung SVTH: Hồ Minh Lý 7 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Trị An Miền 400 MW 1988 Nam Thác Mơ Miền 150 MW 1995 Nam Đa Nhim Miền 160 MW 1964 Nam Hàm Miền 300 MW 2001 Thuận Nam Đa Mi Miền 175 MW 2001 Nam NMTĐ 53 MW Bao gồm nhỏ “Sông Pha” Tổng 4.134 cộng MW Nguồn: Thiết kế kỹ thuật Công trình thủy điện Trị An.5 Sản lượng điện năng thuỷ điện 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Thác 327 405 455 484 483 379 268 345 401 Bà Hòa 4744 5660 6860 7206 7026 6912 8112 8082 8445 Bình Đa 958 1033 936 1162 1122 1160 1368 1343 1096 Nhim Trị 1832 1994 1440 1856 1773 1615 2550 2232 2179 An Thác - - 511 787 800 601 1041 932 926 Mơ Vĩnh - 34 239 338 286 211 414 351 215 Sơn Sông - - - - - - - 207 441 Hinh Nguồn: Thiết kế kỹ thuật Công trình thủy điện Trị An.
Với nhu cầu hằng năm tăng tới 16% - 17%, điện đang là lĩnh vực cung không đáp ứng đủ cầu, do đó thu hút mối quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư. Nguồn lực của một mình EVN không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển điện năng cho nền kinh tế, vì thế việc huy động mọi hình thức đầu tư là rất cần thiết. Dự kiến đến năm 2011, các nguồn điện ngoài EVN sẽ cung cấp tới 30% sản lượng điệntoàn quốc. SVTH: Hồ Minh Lý 8 Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng Ngành điện Việt Nam là một trong những ngành hấp dẫn đầu tư nhất khu vực do tốc độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu điện năng của Việt Nam đang tăng cao.
Nhu cầu sử dụng điện tại Việt Nam là rất lớn kể cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Năm 2010, sản lượng điện cả nước chỉ tăng thêm 13% so với năm trước, tình trạng thiếu điện vẫn diễn ra do nhu cầu sử dụng điện trong nước gia tăng. Để đảm bảo đủ điện trong năm 2011, ngành điện tập trung đầu tư bảo đảm đúng tiến độ đưa vào huy động thêm 4.082 MW công suất các nguồn điện từ các nhà máy nhiệt điện: Cẩm Phả, Hải Phòng, Ô Môn, Quảng Ninh, nhà máy điện lọc dầu Dung Quất; các nhà máy thuỷ điện: Cửa Đạt, Sông Côn, Sê San 4, An Khê - KaNak và các nhà máy thuỷ điện nhỏ. Với yêu cầu tăng trưởng kinh tế năm 2011 trên 6,5%, ngành điện đặt mục tiêu sản xuất khoảng gần 83,3 tỷ kWh, tăng 12,5% so với năm 2010; trong đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sản xuất khoảng 57,44 tỷ kWh và điện mua từ các đơn vị ngoài EVN khoảng trên 25,8 tỷ kWh.
Sản lượng điện thương phẩm cũng dự kiến đạt khoảng 74,9 tỷ kWh, tăng 13,6%. Trong giai đoạn 2006-2015 có xét đến triển vọng 2025, ngành điện cần xây dựng thêm 74 nhà máy và trung tâm điện lực với tổng công suất lên đến 81.