Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung Môi trường khí quyển bao bọc xung quanh trái đất thực chất được cấu thành bởi các lớp chất khí và được giữ bởi hấp lực của trái đất. Nó được phân chia thành một số tầng khí quyển bao gồm: tầng đối lưu (troposphere), tầng bình lưu (stratosphere), tầng giữa khí quyển (mesosphere), tầng điện ly (ionosphere) và tầng ngoài khí quyển (exosphere). Trong đó, tầng thấp nhất gần với bề mặt trái đất là tầng đối lưu với độ cao tới 12,5 km có chứa phần lớn lượng mây được nhìn thấy trên bầu trời.
Do đó, tầng khí quyển này gắn liền với các hiện tượng thời tiết. Nó có chứa nhiều loại khí như: hơi nước, khí N2, khí O2, khí CO2 và một số loại khí khác. Các loại khí này giúp giữ nhiệt lượng mà một phần lại được bức xạ trở lại để làm ấm bề mặt trái đất. Phía trên của tầng đối lưu là tầng bình lưu với độ cao từ 12,5 đến 50 km.
Tầng bình lưu bao gồm tầng Ozone (O3) với sự tập trung của các phân tử O3 có khả năng hấp thụ bức xạ cực tím từ mặt trời và tránh những ảnh hưởng có hại tới sức khỏe con người. Trong khi đó, tầng giữa khí quyển với độ cao từ 50 đến 80 km là tầng có nhiệt độ lạnh nhất và tại tầng điện ly ở độ cao từ 80 đến 290 km, nhiệt độ tăng lên và có thể đạt đến vài ngàn 0F. Cuối cùng, với độ cao từ 290 đến 800 km, tầng ngoài khí quyển là vùng chuyển tiếp tới khoảng không vũ trụ. Việc thu thập số liệu khí tượng theo phương pháp truyền thống được thực hiện ở trên mặt đất bằng các thiết bị đo đạc như: áp kế, nhiệt kế, thiết bị đo gió, các máy ghi đo mực nước mưa và thời gian nắng được phân bố thành một mạng lưới trên khắp khu vực lãnh thổ.
Đồng thời, để thu nhận dữ liệu về áp suất, nhiệt độ và độ ẩm ở tầng khí quyển cao hơn, người ta sử dụng một bóng thám không được thả lên đến độ cao 36 km, mang theo các dụng cụ download by : skknchat@gmail.com 4 được lắp đặt trong khung như: áp kế, nhiệt kế, ẩm kế và một máy radio để truyền tin về mặt đất. Tổng quan ứng dụng viễn thám để xác định một số tham số khí quyển 1. Ứng dụng viễn thám để xác định nhiệt độ không khí gần mặt đất. Nhiệt độ không khí mô tả trạng thái mức độ nóng lạnh của không khí.
Cụ thể hơn, nó mô tả động năng, năng lượng chuyển động của các chất khí tạo nên không khí trong bầu khí quyển. Khi các phân tử chuyển động nhanh hơn, nó làm tăng nhiệt độ không khí. Nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sinh sản của thực vật và động vật, với nhiệt độ ấm hơn thì quá trình tăng trưởng sinh học sẽ được thúc đẩy nhanh hơn. Do đó, nhiệt độ không khí tác động rất mạnh đến sinh vật và hệ sinh thái môi trường.
Nhiệt độ không khí là một trong những thành phần quan trọng của trạng thái không khí cùng với áp suất không khí, độ ẩm không khí, mật độ không khí… Nó ảnh hưởng đến gần như tất cả các thông số thời tiết như tỉ lệ bốc hơi ( ảnh hưởng đến độ ẩm không khí), tốc độ gió và hướng gió, các mô hình mưa và kiểu mưa như mưa, mưa tuyết, mưa đá …. Để xác định nhiệt độ, người ta thường biểu diễn nhiệt độ dưới thang độ F hoặc độ C (0 độ C = 32 độ F). Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học nói chung, người ta thường dùng độ Kelvin- độ K để biểu diễn nhiệt độ. Đó là nhiệt độ thấp nhất có thể mà ở đó các phân tử ngừng chuyển động, nó xấp xỉ bằng -273 độ C và -460 độ F.
Nhiệt độ không khí gần mặt đất được xác định là khoảng không khí có độ cao nhỏ từ 1.5 đến 2 m so với bề mặt đất. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định nhiệt độ không khí gần mặt đất và mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác diễn ra trên bề mặt khí quyển. Trong viễn thám, bức xạ đo được từ các thiết bị vệ tinh là một hàm tích phân của các tham số như: độ cao, áp suất bề mặt và các mặt cắt thẳng đứng download by : skknchat@gmail.com 5 (vertical profile) của nhiệt độ và hơi nước. Do đó, cấu trúc nhiệt độ của khí quyển có thể được xác định bằng cách quan trắc bức xạ điện từ rời khỏi môi trường khí quyển ở một số khoảng phổ (spectral intervals) trong vùng hồng ngoại nhiệt và vùng sóng siêu cao tần.
Bức xạ này từ trái đất rời khỏi khí quyển vào khoảng không vũ trụ thay đổi theo chiều dài bước sóng do: (1) sự phụ thuộc của hàm Planck vào chiều dài bước sóng và (2) sự hấp thụ của các loại khí trong môi trường khí quyển có cấu trúc phân tử khác nhau như CO2, H2O, O3 và các loại khí khác. Xung quanh các dải phổ hấp thụ của các loại khí cấu tạo khí quyển, mặt cắt đứng của các tham số khí quyển như nhiệt độ, độ ẩm có thể tính toán được. Lấy mẫu ở vùng phổ tại trung tâm của dải hấp thụ sẽ cho bức xạ của tầng khí quyển trên (do các loại khí cấu tạo của khí quyển đã hấp thụ các bức xạ từ tầng khí quyển dưới); lấy mẫu ở các vùng phổ xa khỏi trung tâm của dải hấp thụ sẽ cho bức xạ từ tầng khí quyển dưới kế tiếp. Xa khỏi các dải hấp thụ sẽ là các cửa sổ cho vùng đáy của tầng khí quyển.
Tổng quan ứng dụng viễn thám để xác định nhiệt độ không khí gần mặt đất trên thế giới. Nhiệt độ không khí ước tính từ nhiệt độ bề mặt. Chen (1983) đã khám phá ra rằng từ dữ liệu hồng ngoại nhiệt từ vệ tinh GOES có thể xác định nhiệt độ bề mặt. Sau đó, Chen tiếp tục xét mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt với nhiệt độ không khí và phát hiện ra tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa chúng và có hệ số tương quan rất cao giữa chúng.
Các kết quả tính toán cho thấy hệ số tương quang cỡ 0.5 mét và độ lệch chuẩn chỉ là 1. Davis (1983) khi sử dụng dữ liệu nhiệt độ NOAA cũng cho thấy mối quan hệ tuyến tính giữa nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt đất trên vùng Bắc Mỹ và độ lệch chuẩn là 1. Horiguchi (1992) cũng thực hiện phân tích hồi quy giữa nhiệt độ không khí ở độ cao 1.5 mét từ hệ thống quan trắc dữ liệu với nhiệt độ bề mặt từ dữ download by : skknchat@gmail.com 6 liêu hồng ngoại nhiệt của vệ tinh địa tĩnh. Kết quả cũng cho thấy mức độ sai số 1-1.
Ottle (1989) chỉ ra rằng nhiệt độ không khí biến đổi vì thực vật và đó cơ sở cho mối quan hệ tuyến tính giữa nhiệt độ không khí và nhiệt bề mặt. Green năm 2002 cũng phát hiện ra mối tượng quan rất lớn giữa dữ liệu nhiệt độ không khí ước tính từ đầu thu AVHRR với nhiệt độ không khí thu thập tại các trạm quan trắc. Quá trình thống kê ước tính với gian đoạn 1 tháng cho cả châu Âu và châu Phi. Mối quan hệ tuyến tính thể hiện trong suốt cả tháng với dữ liệu ít nhất từ 105 đến 164 trạm quan trắc và sai số trung phương nằm trong khoảng 2.5 độ K với sai số trung bình là 4.8 độ K ở châu Âu và tương ứng với châu Phi là 3.
Nhiệt độ không khí ước tính dựa trên chỉ số khác biệt thực vật(NDVI). Phân tích khai thác chỉ số khác biệt thực vật (NDVI) dự trên việc ước tính và thành lập bản đồ nhiệt độ bề mặt đều được thực hiện bởi Goward năm 1988,1994, Nemani năm 1989, Prince năm 1995, Goetz năm 1997 và Sarvanapavan năm 1995. Nguyên lý phương pháp này là sử dụng mối quan hệ giữa lớp phủ thực vật thể hiện thông qua chỉ số khác biệt thực vật và nhiệt độ bề mặt ( Nemani, 1989) vì phần lớn mặt đất được bao phủ bởi thực vật với xu hướng đồng nhất, do đó việc quan trắc nhiệt độ không khí có thể được thực hiện theo phương pháp này. Saravanapavan (1995) đề cập tới việc nhiêt độ bề mặt giảm khi giá trị NDVI tăng lên.
Nhiệt độ không khí được ước tính bằng phép ngoại suy NDVI thông qua giá trị NDVI ở vùng phủ kín thực vật với nhiệt độ không khí khác biệt cỡ 1-2 độ C. Nhiệt độ không khí có thể ngoại suy từ đường hợp lý nhất thông qua giá trị NDVI ở vùng phủ kín thực vật ( thường là 0.7) và nhiệt độ bề mặt. Phương pháp này có thấy mối tương quan là 0.81 và sai số trung phương cỡ khoảng 1.2 ở 5 vùng của Thái Lan. download by : skknchat@gmail.com 7 Nhiệt độ không khí ước tính thông qua việc tính nhiệt độ bề mặt sử dụng mô hình góc thiên đỉnh của bức xạ mặt trời.
Cresswell năm 1997 đã đề cập tới việc ước tính nhiệt độ dựa trên năng lượng bức xạ sóng dài từ bề mặt trái đất và nó không thực sự biểu thị nhiệt độ không khí. Vệ tinh khí tượng Meteosat dựa trên việc ước tính tính hiệu hòa trộn, nó chứa năng lượng có nguồn gốc bức xạ mặt trời phản xạ lại từ trái đất, năng lượng bức xạ bản thân của khí quyển và năng lượng gần mặt đất. Ta biết răng không dễ dàng phân tách từng thành phần riêng biệt của năng lượng thu được nhưng phương pháp ước tính này cho phép ước tính dựa trên tổng từng phần của năng lượng thu được. Chúng ta biết rằng, Meteosat cho phép thu ảnh cả ngày và đêm, những tín hiệu hồng ngoại yếu sẽ bị biến dạng và chịu ảnh hưởng của hiện tán xạ Rayleigh.
Bằng cách sử dụng mô hình mà nó có mối quan hệ chặt chẽ tới dải hồng ngoại trên ảnh Meteosat và giá trị nhiệt độ thực tế lấy từ các trạm quan trắc. Phương pháp này có 70% giá trị sai cỡ 3 độ C và 10-13 % sai số cỡ 5 độ C và lớn hơn. Nhiệt độ không khí ước tính từ mối quan hệ giữa biến thể của khối nhiệt và nhiệt độ không khí. Ferreira năm 2001 tại Bồ Đào Nha đã phát triển mối quan hệ giữa sự khác biệt biến thể của khối nhiệt độ và nhiệt độ không khí Tc - Ta và sự suy giảm do bão hòa để ước tính chỉ số áp lực nước thực vật cùng với một công cụ quản lý thủy lợi và phát hiện ra mối quan hệ tuyến tính với hệ số tương quan là 0.
Nhiệt độ không khí ước tính bằng phương pháp nội suy không gian.