chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc, …). Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật 1. Phân loại thuốc theo tính độc Mỗi loại thuốc đều có công dụng cũng như độc tính khác nhau.
Do vậy, các nhà sản xuất thuốc BVTV đều ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50 ) và tính bằng mg/kg cơ thể. Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau: 3 Bảng 1. 1: Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại theo quy định của WHO Hình thức Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Dạng lỏng Dạng rắn Cấp độ Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da Rất độc ≤ 20 ≤ 40 ≤5 ≤ 10 Độc 20 – 200 40 - 400 5 - 50 10 – 100 Độc trung bình 200 – 2000 400 -4000 50 - 500 100 - 1000 Ít độc >2000 >4000 >500 >1000 ( Nguồn : Nguyễn Trần Oánhgiáo trình sử dụng thuốc BVTV, 2007)[6] Trong đó: LD50: liều lượng chất độc cần thiết để giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh. Liều 5mg/kg thể trọng tương đương một số giọt uống hay nhỏ mắt.
Liều 5 – 50 mg/kg thể trọng tương đương một thìa cà phê. Liều 50 -500 mg/kg thể trọng tương đương hai thìa súp.2: Phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các ký hiệu về độc tính ghi trên nhãn LD50 (mg/kg) Nhóm Ký hiệu vạch Qua miệng Qua da Biểu tượng độc màu Thể Thể Thể Thể rắn lỏng rắn lỏng I. Rất độc ≤50 ≤200 ≤100 ≤400 II. >200- >100- >400- Độc >50-500 2000 1000 4000 cao III.
500- >2000- Nguy 2000 >1000 >4000 3000 hiểm IV. Cẩn >2000 >3000 thận (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh, giáo trình sử dụng thuốc BVTV, 2007)[6] LD50 là ký hiệu chỉ độ độc cấp tính của thuốc qua đường miệng hoặc qua da. Trị số của nó là liều gây chết trung bình được tính bằng miligam (mg) hoạt chất có thể gây chết 50% số động vật thí nghiệm (tính bằng kg) khi tổng lượng thể trọng của số động vật trên bị cho uống hết hoặc bị phết vào da. Giá trị LD50 càng nhỏ thì hoá chất đó càng độc.
Khi sử dụng các loại thuốc trừ nấm bệnh, sâu rầy cho lan, chúng ta nên cân nhắc lựa chọn các loại thuốc có độ độc ít, nhằm đảm bảo sức khỏe và môi 5 trường xung quanh. Về cơ bản, chúng ta có thể nhận biết tính độc của thuốc bảo vệ thực vật theo dấu hiệu màu trên bao bì thuốc như sau: Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình. Vạch màu xanh biển trên bao bì da trời là thuốc độc nhóm III, , thuộc loại ít độc. Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm IV, thuộc loại độc.
Phân loại theo con đường xâm nhập Gồm có các con đường xâm nhập: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, và thấm sâu Bảng 1.3: Phân loại dựa vào con đường xâm nhập đến dịch hại Loại chất độc Con đường xâm nhập Chất độc tiếp xúc Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại, thuốc sẽ phá hủy bộ máy thần kinh của dịch hại. Thuốc được xâm nhập vào cây qua lá, thân, rễ, cành…rồi Chất độc nội hấp được vận chuyển tích lũy trong hệ thống dẫn nhựa của cây, tồn tại trong đó một thời gian và gây chết cơ thể sinh vật Loại thuốc có khả năng bốc thành hơi, làm bầu không khí Chất độc xông hơi bao quanh cơ thể dịch hại bị nhiễm độc qua quá trình hô hấp Chất độc vị độc Loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường tiêu hóa của dịch hại: 666,…. Loại thuốc xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu Chất độc thấm sâu theo chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống ẩn nấp trong tổ chức tế bào thực vật (Nguồn:Nguyễn Trần Oánh, giáo trình sử dụng thuốc BVTV, 2007)[6] 6 Chất độc tiếp xúc để kiểm soát sâu hại bằng cách phun trực tiếp thuốc BVTV lên sâu hại hoặc bề mặt đối tượng cần bảo vệ có sâu đi qua với một lượng đủ thấm qua lớp vỏ cơ thể sâu hại. Chất độc nội hấp tiêu diệt sâu hại bằng cách gây độc trực tiếp vào nguồn thức ăn của chúng là nhựa cây, do chúng dùng miệng nhỏ hình kim cắm vào cây trồng và hút nhựa và đây là cách để đưa thuốc vào cơ thể côn trùng đó Chất độc xông hơi để loại trừ một số loại sâu hại ngũ cốc.
Thuốc xông hơi được đưa vào khu vực sâu hại ở dạng rắn, lỏng hoặc dạng khí, thuốc lan tỏa khắp không gian có sâu hại và diệt sâu hại qua đường hô hấp. Chất độc vị độc thuốc có tác dụng vị độc được sử dụng ở dạng phun, bột rắc hay mồi độc và được dùng để diệt các laoì có hại qua đường miệng của chúng. Các loài có hại ăn phỉa thuốc cùng với thức ăn qua đường miệng. Chất độc thấm sâu là loại thuốc có khả năng thấm sâu qua lớp biểu bì cây để tiêu diệt dịch hại nằm dướilớp biểu bì mà không có khả năng di chuyển trong cây.
Phân loại theo đối tượng phòng chống Thuốc trừ sâu (insecticide): gồm các chất hay hồn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong nôi trường, chúng được dùng đế diệt trừ hay ngăn ngừa tác hại cùa côn trùng lên cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người. Thuốc trừ sâu còn được chia ra theo khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng: thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non. Thuốc trừ bệnh (Fungicide): thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học(vô cơ hoặc hữu cơ), sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sàn bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất. Thuốc trừ bệnh dùng đề bào vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công.
Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicide) và trừ vi khuẩn ( Bactericides). 7 Thuốc trừ nhện ( Acricide): những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hạ cây trồng và các loại thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ. Hầu hết các loại thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc. Thuổc trừ chuột (Rodenticide): là những hợp chất vô cơ, hửu cơ hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và các loài gặm nhấm, chúng tác động đến chuột chù yếu bằng con đường vị độc và xông hơi.
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): các chất xông hơi và nội hấp được dùng đề xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rẽ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây. Thuốc trừ cỏ (Herbicide ): các chất được đùng đế trừ các loài thực vật cân trở sự sinh trường cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, qua các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt.và gồm cả các thuốc trừ rong rêu ruộng, kênh mương. Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất, vì vậy khi dùng thuốc trong nhóm này phải đặc biệt thận trọng. Thuốc kích thích tăng trưởng: các chất được dùng để kích thích sự sinh trưỏng của cây trồng, kích thích ra hoa, đậu quả giúp tăng năng suất cây trồng, giảm thời gian sinh trường của cây.
Phân loại theo nguồn gốc hóa học Thuốc có nguồn gốc sinh học: Gồm các loài sinh vật, các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc vô cơ: Bao gồm các hợp chất vô cơ có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại.
Đặc điểm của thuốc bảo vệ thực vật 1. Ưu điểm của sử dụng thuốc BVTV trong bảo vệ cây trồng 8 Trong sản xuất nông nghiệp chúng ta không thế phủ nhận vai trò của thuốc BVTV. Chúng ta điều biết thuốc BVTV mang lại cac lợi ích thiết thực cho người sản xuất như: - Tiêu diệt dịch hại nhanh, triệt để. - Đặc biệt trong trường hợp dịch phát sinh thành dịch, đe dọa nghiêm trọng đến năng suất cây trồng mà các biện pháp khác không ngăn được.
- Có thể sử dụng trên diện tích lớn, trong thời gian ngắn. - Mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ năng suất và giá trị thẩm mỹ của nông sản. Nhược điểm của sử dụng thuốc BVTV trong bảo vệ cây trồng Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất noogn nghiệp mang lại nhiều lợi ích nhưng bên cạnh đó ta không thể không nói tới hậu quả mà thuốc BVTV gây ra như: - Gây ô nhiễm môi trường, đầu độc bầu khí quyển, gây hại cho vi sinh vật dưới nước. - Dư lượng thuốc BVTV tồn đọng trong nông sản, thực phẩm, dất, nước, không khí gây ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động sống của con người và các động vật khác.
- Khi sử dụng với lâu sẽ hình thành nên tính kháng thuốc của dịch hại hoặc phát sinh những loài dịch hại mới…gây ra khó khăn cho công tác phòng trừ. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới Trên thế giới, thuốc BVTV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm.