Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có giá trị đa dạng sinh học cao và mang tầm quan trọng toàn cầu, thuộc nhóm các quốc gia cần ưu tiên bảo tồn sinh học. Từ khi trở thành thành viên chính thức của Công ước Liên Hợp Quốc về Đa dạng sinh học (CBD) vào năm 1994, Chính phủ Việt Nam đã dành nhiều nguồn lực con người và tài chính để thực thi các cam kết quốc tế. Đa dạng sinh học đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường của Việt Nam thông qua việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái (dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ), duy trì an ninh lương thực, bảo tồn nguồn gen động thực vật và cung cấp nguyên liệu xây dựng, nhiên liệu và dược liệu.

Mặc dù độ che phủ rừng tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, phần lớn diện tích tăng thêm thuộc về rừng trồng sản xuất. Trong khi đó, sinh cảnh tự nhiên cho các loài hoang dã ngày càng suy giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất; các loài quý hiếm và nguy cấp suy giảm nghiêm trọng; hệ sinh thái thủy vực và biển bị suy thoái do các hoạt động khai thác thiếu bền vững. Đa dạng sinh học tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều áp lực: gia tăng dân số, nhu cầu tiêu dùng tăng cao dẫn đến khai thác quá mức lâm sản gỗ, lâm sản ngoài gỗ và thủy sản; phân mảnh hệ sinh thái do xây dựng hạ tầng cơ sở; sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Công tác quản lý tài nguyên sinh vật còn bộc lộ một số tồn tại như hệ thống cơ quan quản lý nhà nước chưa đồng bộ, khung pháp lý thiếu tính thống nhất liên ngành, sự tham gia của cộng đồng chưa được huy động hiệu quả và quy hoạch bảo tồn ở các cấp còn phân tán.

Trường Đại học Lâm nghiệp (VNUF) là trung tâm đào tạo và nghiên cứu đầu ngành của Việt Nam trong các lĩnh vực Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Môi trường, Công nghiệp rừng và Phát triển nông thôn. Nhà trường đã đào tạo hơn 4.000 thạc sĩ, 100 tiến sĩ, hơn 45.000 kỹ sư/cử nhân và 500 học viên sơ - trung cấp. Khuôn viên trường và khu rừng thực nghiệm là nơi đã triển khai nhiều nghiên cứu khoa học về thổ nhưỡng, sinh thái rừng và thực vật. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc lập danh lục thực vật chung hoặc nghiên cứu cục bộ từng phân khu rừng thực nghiệm, thiếu cơ sở dữ liệu hình ảnh, mẫu vật phục vụ trao đổi thông tin khoa học và đánh giá chi tiết thành phần loài cây gỗ trong toàn bộ khuôn viên chính. Vì lý do đó, tác giả Trần Thị Phương Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Diversity of Timber Tree Species in Campus of Vietnam National University of Forestry" (Đa dạng các loài cây gỗ tại khuôn viên Trường Đại học Lâm nghiệp).

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng danh lục các loài cây gỗ bản địa tại khu vực nghiên cứu.
  2. Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, giá trị sử dụng và giá trị bảo tồn của các loài cây gỗ.
  3. Xây dựng cơ sở dữ liệu (hình ảnh, mẫu vật, đặc điểm hình thái, phân bố và tình trạng sinh trưởng) cho một số loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị cao.
  4. Đề xuất một số giải pháp hiệu quả nhằm bảo vệ, sử dụng và quản lý bền vững các loài cây gỗ bản địa tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các loài cây gỗ bản địa hiện diện tại khu vực nghiên cứu. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại khuôn viên chính của Trường Đại học Lâm nghiệp và mở rộng thêm 5 mét sang ranh giới khu rừng thực nghiệm liền kề (thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận áp dụng hệ thống phân loại học thực vật của Takhtajan (2009) để sắp xếp các bậc phân loại từ ngành, họ, chi đến loài. Danh pháp khoa học và tên thông thường của các loài thực vật được đối chiếu và chuẩn hóa theo bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Tập I - 2001, Tập II - 2003, Tập III - 2005), bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999–2000), Sách Đỏ Việt Nam (Phần Thực vật, 2007), Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (phiên bản 2017–2019), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và cơ sở dữ liệu quốc tế trực tuyến.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra thực địa theo tuyến - theo ô tiêu chuẩn và xử lý phân loại tại phòng thí nghiệm:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập bản đồ hiện trạng khuôn viên VNUF; tổng quan các tư liệu, công trình nghiên cứu đã công bố về thực vật và rừng thực nghiệm VNUF; tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Xuân Mai.
  • Điều tra thực địa theo tuyến (Transect lines): Thiết lập 2 tuyến điều tra chính dọc theo các trục giao thông chính của khuôn viên trường để khảo sát ranh giới và tổng quan địa hình:
    • Tuyến 1 (Line 1): Từ Cổng chính (Main gate) đến Quảng trường sinh viên (Student square), chiều dài 313 mét.
    • Tuyến 2 (Line 2): Từ Cổng phụ (Secondary gate) đến Trạm biến áp (Power-station), chiều dài 373 mét.
  • Điều tra theo phân khu (Investigation by set zones): Toàn bộ khu vực nghiên cứu được chia thành 4 phân khu để điều tra chi tiết:
    • Khu 1 (Zone 1): Tòa nhà A1, A2; giảng đường G1, G2, G3, G4, G5, G6; nhà khách; tượng đài Nguyễn Trãi; nhà để xe; nhà khoa Công nghiệp Gỗ và Thiết kế Nội thất.
    • Khu 2 (Zone 2): Hồ Thủy Đình, Nhà thi đấu thể thao, Thư viện, Tượng đài Hồ Chí Minh, Nhà truyền thống.
    • Khu 3 (Zone 3): Tòa nhà A3, Hồ sinh thái, Xưởng thực hành chế biến gỗ.
    • Khu 4 (Zone 4): Khu ký túc xá, Trung tâm dịch vụ, Trường THPT Lâm nghiệp, Quảng trường VNUF.
  • Thu thập dữ liệu và xử lý mẫu vật: Tiến hành kiểm kê toàn bộ cây gỗ trong từng phân khu; đo đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$), đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$); đánh giá phẩm cấp sinh trưởng theo 3 mức độ (Tốt - Good, Trung bình - Moderate, Xấu - Bad). Thu thập mẫu vật thực vật đạt tiêu chuẩn (có chồi, lá non, lá già, hoa hoặc quả nếu có), bảo quản trong túi nylon tối màu, ghi nhãn chì 2B; đưa về Phòng Tiêu bản thực vật (Herbarium) của Trường Đại học Lâm nghiệp để phân tích, so sánh hình thái và giám định tên khoa học.
Tuyến điều tra Điểm bắt đầu Điểm kết thúc Chiều dài (m)
Tuyến 1 (Line 1) Cổng chính Quảng trường sinh viên 313
Tuyến 2 (Line 2) Cổng phụ Trạm biến áp 373

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu nghiên cứu (Chương I)

Chương I tổng thuật lịch sử nghiên cứu thực vật và đa dạng sinh học trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, các công trình phân loại thực vật lớn khởi đầu từ giữa thế kỷ XIX (Flora of Hong Kong 1861, Flora of Australia 1866, Flora of British India 1872–1897, Flora of Indo-China của Lecomte). Tác giả dẫn luận quan điểm của Tolmachev về dung lượng loài thực vật trong một hệ thực vật nhiệt đới ẩm (khoảng 1.500–2.000 loài) và giới thiệu các trung tâm cơ sở dữ liệu mẫu vật lớn như Hệ thống Thông tin Đa dạng Sinh học Trung Quốc (CBIS), Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Indonesia tại Cibinong (lưu trữ hơn 2 triệu mẫu thực vật) và Bảo tàng sinh vật Malaysia (hơn 300.000 mẫu thực vật).

Tại Việt Nam, các công trình tiêu biểu bao gồm nghiên cứu thực vật Đông Dương của các nhà thực vật học Pháp, công trình Thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978) ghi nhận 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi và 289 họ (trong đó ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 6.336 loài, chiếm 90,99%); bộ sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ ghi nhận 11.611 loài thuộc 3.179 chi, 295 họ và 6 ngành. Các nghiên cứu chuyên sâu cấp khu vực tại Vườn quốc gia Cúc Phương (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ, dự án ICBG) ghi nhận gần 2.000 loài thực vật bậc cao có mạch.

Riêng tại Trường Đại học Lâm nghiệp, các công trình tiền đề gồm có: Lê Mộng Chân (1997, 1998) nghiên cứu quy hoạch Vườn thực vật bảo tồn nguồn gen ghi nhận 260 loài cây gỗ bản địa thuộc 68 họ; Trần Ngọc Hải và Nguyễn Văn Huy (2003) ghi nhận 342 loài bản địa thuộc 257 chi, 90 họ, 3 ngành; Lê Sỹ Việt và cộng sự (2005) xây dựng cơ sở dữ liệu rừng thực nghiệm; Phùng Văn Phê (2006) khảo sát lô A khoảnh 3 ghi nhận 283 loài; Vũ Thị Thuận (2006–2009) đánh giá sinh trưởng các loài bản địa và ngoại lai; Nguyễn Văn Thanh (2009) ghi nhận 397 loài tại rừng thực nghiệm và 198 loài tại núi Voi; Đào Công Anh (2017) ghi nhận 273 loài cây bản địa thuộc 171 chi và 59 họ.

Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu (Chương II)

Chương II trình bày cụ thể hệ thống mục tiêu, nội dung điều tra, phạm vi giới hạn, công cụ đo đạc thực địa (thước dây, địa bàn, thước kẹp kính, máy ảnh, GPS, máy tính xách tay) cùng quy trình phân tích mẫu vật trong phòng tiêu bản. Chương này mô tả cấu trúc các bảng biểu ghi chép điều tra theo 2 tuyến và 4 phân khu, tiêu chuẩn lấy mẫu hình thái học và phương pháp luận thống kê phân loại thực vật.

Đặc điểm khu vực nghiên cứu (Chương III)

Chương III mô tả điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu:

  • Vị trí địa lý và diện tích: Khuôn viên Trường Đại học Lâm nghiệp đặt tại thị trấn Xuân Mai, thành phố Hà Nội, có tổng diện tích 170,67 ha; tọa độ địa lý $20^\circ 51' 13''$ vĩ độ Bắc và $105^\circ 30' 45''$ kinh độ Đông.
  • Điều kiện khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa theo số liệu trạm khí tượng VNUF (giai đoạn 1996–2007). Mùa mưa kéo dài từ giữa tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,9°C; nhiệt độ trung bình tháng cao nhất vào tháng 6 (28,5°C) và thấp nhất vào tháng 1 (15,7°C).
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân cư tại thị trấn Xuân Mai chủ yếu gồm hai dân tộc Mường và Kinh, sinh sống bằng canh tác nông lâm nghiệp định canh định cư. Hệ thống giao thông đồng bộ với trục Quốc lộ 21A nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, vận chuyển giống cây trồng và phát triển kinh tế lâm nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận (Chương IV)

Chương IV trình bày các phân tích định lượng về cấu trúc thành phần loài, sự đa dạng của các họ thực vật, phân nhóm giá trị sử dụng, tình trạng bảo tồn và cơ sở dữ liệu chi tiết của 10 loài cây gỗ tiêu biểu. Kết quả khẳng định khuôn viên VNUF sở hữu tính đa dạng thực vật cao với 107 loài cây gỗ bản địa thuộc 88 chi và 38 họ thực vật bậc cao có mạch.

Kết quả và đóng góp

Đa dạng thành phần loài và họ thực vật

Khóa luận đã kiểm kê và xác định 107 loài cây gỗ bản địa thuộc 88 chi và 38 họ thực vật tại khuôn viên VNUF. Cấu trúc số lượng loài phân bố không đều giữa các họ:

STT Tên khoa học của họ Tên tiếng Việt Số loài Tỷ lệ (%)
1 Caesalpiniaceae Họ Vang 14 13,08
2 Moraceae Họ Dâu tằm 9 8,61
3 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu 6 5,67
4 Cupressaceae Họ Hoàng đàn 4 3,74
5 Apocynaceae Họ Trúc đào 3 2,76

Bên cạnh các họ chiếm ưu thế về số lượng loài, có 14 họ chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài đại diện trong khuôn viên (chiếm tỷ lệ phân bố đơn loài cao), bao gồm: Annonaceae (Polyalthia longifolia - Bút tháp), Araucariaceae (Araucaria columnaris - Bách tán), Bixaceae (Cochlospermum religiosum - Mai hoa đăng), Elaeocarpaceae (Elaeocarpus dubius - Côm tầng), Lecythidaceae (Barringtonia acutangula - Lộc vừng), Muntingiaceae (Muntingia calabura - Trứng cá), Ochnaceae (Ochna integerrima - Mai), Rosaceae (Eriobotrya japonica - Tỳ bà), Podocarpaceae (Nageia fleuryi - Kim giao), Sapotaceae (Pouteria lucuma - Trứng gà), Simarubaceae (Ailanthus triphysa - Thanh thất), Sterculiaceae (Sterculia lanceolata - Sảng nhung), Taxodiaceae (Taxodium distichum - Bụt mọc), và Thymelaeaceae (Aquilaria crassna - Trầm hương).

Đa dạng nhóm giá trị sử dụng

Các loài cây gỗ bản địa tại khuôn viên VNUF được phân thành 7 nhóm giá trị sử dụng chính (mỗi loài có thể thuộc nhiều nhóm giá trị khác nhau):

  1. Nhóm lấy gỗ (Wood - W): 107 loài (chiếm 100% tổng số loài điều tra).
  2. Nhóm làm cảnh, bóng mát (Ornamental - O): 62 loài, tiêu biểu như Dracontomelum duperreanum (Sấu), Mangifera indica (Xoài), Dipterocarpus alatus (Dầu rái), Parashorea chinensis (Chò chỉ), Elaeocarpus dubius (Côm tầng), Muntingia calabura (Trứng cá).
  3. Nhóm thực phẩm (Food - F): Các loài cung cấp quả, hạt, lá non hoặc vỏ ăn được như Dracontomelum duperreanum, Mangifera indica, Saraca dives (Vàng anh), Sterculia lanceolata (Sảng nhung).
  4. Nhóm làm thuốc (Medicine - M): Các loài có dược tính phục vụ y học cổ truyền và chiết xuất dược liệu như Alstonia scholaris (Sữa), Eriobotrya japonica (Tỳ bà), Nageia fleuryi (Kim giao).
  5. Nhóm tinh dầu (Oil - Oi): Các loài chứa tinh dầu ở thân, lá, hoa phục vụ công nghiệp hóa mỹ phẩm và dược phẩm như Cinnamomum balansae (Vù hương), Michelia alba (Ngọc lan), Aquilaria crassna (Trầm hương).
  6. Nhóm lấy nhựa (Resin - R): Các loài tiết nhựa có giá trị kinh tế và công nghiệp như Liquidambar formosana (Sau sau), Dipterocarpus alatus (Dầu rái), Calocedrus macrolepis (Bách xanh).
  7. Nhóm sợi (Fibrous - Fi): Ghi nhận 7 loài cung cấp sợi phục vụ đan lát, dệt hoặc sản xuất bột giấy gồm Pinus massoniana (Thông đuôi ngựa), Pinus kesiya (Thông ba lá), Ceiba pentandra (Bông gòn), Gossampinus malabarica (Gạo), Broussonetia papyrifera (Dướng), Eucalyptus camaldulensis (Bạch đàn trắng), Aquilaria crassna (Trầm hương).

Tình trạng bảo tồn và các loài quý hiếm

Nghiên cứu ghi nhận 13 loài cây gỗ bản địa thuộc diện bị đe dọa, nguy cấp, quý hiếm (chiếm 12,15% tổng số loài) theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định 32/2006/NĐ-CP:

STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Họ Nhóm giá trị IUCN Sách Đỏ VN Nghị định 32
1 Erythrophleum fordii Lim xanh Caesalpiniaceae W EN - Nhóm IIA
2 Afzelia xylocarpa Gõ đỏ Caesalpiniaceae W, O EN EN Nhóm IIA
3 Dipterocarpus alatus Dầu rái Dipterocarpaceae W, O, R EN VU -
4 Hopea odorata Sao đen Dipterocarpaceae W, O VU - -
5 Dalbergia balansae Trắc cảnh Fabaceae W VU - -
6 Dalbergia tonkinensis Sưa bắc bộ Fabaceae W, O VU EN Nhóm IA
7 Dalbergia oliveri Cẩm lai Fabaceae W, O EN EN Nhóm IIA
8 Pterocarpus macrocarpus Dáng hương quả to Fabaceae W, R EN - Nhóm IIA
9 Cinnamomum balansae Vù hương Lauraceae W, O, Oi EN VU Nhóm IIA
10 Chukrasia tabularis Lát hoa Meliaceae W, O VU - -
11 Calocedrus macrolepis Bách xanh Cupressaceae W, R NT EN Nhóm IIA
12 Cupressus torulosa Hoàng đàn Cupressaceae W, R, Oi, M CR - -
13 Fokienia hodginsii Pơ mu Cupressaceae W, R, Oi, O EN - -

Dữ liệu các quần thể loài điển hình tại khuôn viên trường

Khóa luận thống kê chi tiết đặc điểm hình thái, phân bố địa lý, công dụng và số lượng cá thể hiện diện tại khuôn viên VNUF của các loài quan trọng:

  • Kim giao (Nageia fleuryi): 14 cá thể tại khu vực Giảng đường G1 và nhà để xe; sinh trưởng tốt.
  • Bách xanh (Calocedrus macrolepis): 5 cá thể tại Tượng đài Bác Hồ, Tượng đài Nguyễn Trãi và ven Hồ Thủy Đình; sinh trưởng tốt.
  • Dầu rái (Dipterocarpus alatus): 5 cá thể tại khu nhà T3, sân bóng chuyền, nhà khách, thư viện và giảng đường G6; sinh trưởng tốt.
  • Sau sau (Liquidambar formosana): 15 cá thể tại Viện Sinh thái rừng; sinh trưởng tốt.
  • Sao đen (Hopea odorata): 22 cá thể tại khu vực Tượng đài Bác Hồ, giảng đường G2 và G5; sinh trưởng tốt.
  • Vù hương (Cinnamomum balansae): 18 cá thể tại nhà khách và giảng đường G6; sinh trưởng tốt.
  • Quao xanh (Stereospermum annamense): 5 cá thể tại Hồ Thủy Đình, Tượng đài Bác Hồ và nhà A2; sinh trưởng tốt.
  • Hoàng linh (Peltophorum dasyrhachis): 13 cá thể tại giảng đường G5 và Quảng trường sinh viên; sinh trưởng tốt.
  • Sưa bắc bộ (Dalbergia tonkinensis): 50 cá thể phân bố tập trung tại khu Cổng chính, Thư viện và Ký túc xá; sinh trưởng tốt.

Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn

Tác giả đề xuất xây dựng hệ thống biển tên thông tin khoa học (tên khoa học, tên tiếng Việt, họ thực vật, cấp độ bảo tồn) gắn trực tiếp lên các cây gỗ bản địa quý hiếm; tăng cường kiểm tra định kỳ tình trạng sâu bệnh hại; tích hợp cơ sở dữ liệu mẫu vật và hình ảnh số hóa vào phục vụ công tác giảng dạy thực hành lâm sinh học, thực vật rừng và giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn đa dạng sinh học cho sinh viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn trong khuôn viên chính của Trường Đại học Lâm nghiệp và dải đệm 5m giáp rừng thực nghiệm, chưa bao quát toàn bộ diện tích 170,67 ha bao gồm các vùng lõi rừng thực nghiệm và khu vực núi Voi.
  • Hạn chế về số lượng mẫu vật hình ảnh: Dữ liệu điều tra mới chỉ xây dựng hồ sơ chuyên sâu cho các loài cây gỗ bản địa tiêu biểu, chưa hoàn thiện bộ tư liệu hình ảnh và mẫu tiêu bản cho toàn bộ 107 loài cây gỗ trong khuôn viên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra định lượng cấu trúc tầng tán, sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của các loài cây gỗ bản địa trong khuôn viên; xây dựng hệ thống bản đồ số GIS định vị tọa độ từng cá thể cây gỗ quý hiếm để quản lý lâu dài; tiếp tục cập nhật bổ sung tiêu bản cho Herbarium của trường.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Lâm học, Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường tại Trường Đại học Lâm nghiệp và các cơ sở đào tạo lâm nghiệp khác.

Công trình có giá trị chuyên môn cao ở các phần:

  • Quy trình thiết kế tuyến điều tra và phân khu kiểm kê thực vật trong khuôn viên cơ sở giáo dục đại học.
  • Danh lục phân loại 107 loài cây gỗ bản địa kèm phân tích cấu trúc họ thực vật và nhóm giá trị sử dụng.
  • Hồ sơ thực vật học, hình thái và tình trạng bảo tồn chi tiết của 13 loài cây gỗ nguy cấp, quý hiếm (Sưa, Vù hương, Bách xanh, Hoàng đàn, Kim giao, Gõ đỏ, Lim xanh).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài cây gỗ bản địa trong khuôn viên VNUF? Nghiên cứu đã ghi nhận 107 loài cây gỗ bản địa thuộc 88 chi và 38 họ thực vật bậc cao có mạch.

2. Họ thực vật nào có số lượng loài cây gỗ chiếm ưu thế cao nhất tại khu vực nghiên cứu? Họ Vang (Caesalpiniaceae) chiếm ưu thế cao nhất với 14 loài (chiếm 13,08% tổng số loài), tiếp theo là họ Dâu tằm (Moraceae) với 9 loài (8,61%) và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 6 loài (5,67%).

3. Có bao nhiêu loài cây gỗ thuộc diện bị đe dọa, quý hiếm được phát hiện? Có 13 loài cây gỗ thuộc danh mục bị đe dọa (chiếm 12,15% tổng số loài), được xếp hạng trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định 32/2006/NĐ-CP (như Sưa bắc bộ, Vù hương, Bách xanh, Hoàng đàn, Dầu rái, Gõ đỏ, Lim xanh, Cẩm lai).

4. Loài cây gỗ quý hiếm nào có số lượng cá thể ghi nhận nhiều nhất trong khuôn viên VNUF? Loài Sưa bắc bộ (Dalbergia tonkinensis) thuộc họ Đậu (Fabaceae) có số lượng cá thể ghi nhận nhiều nhất với 50 cá thể, phân bố chủ yếu tại khu vực Cổng chính, Thư viện và Ký túc xá.

5. Khuôn viên nghiên cứu được phân chia thành những tuyến và khu vực điều tra nào? Nghiên cứu thiết lập 2 tuyến điều tra (Tuyến 1 dài 313m, Tuyến 2 dài 373m) và chia thành 4 phân khu chính: Khu 1 (các khối giảng đường G, nhà A1-A2, nhà xe), Khu 2 (Hồ Thủy Đình, Thư viện, Tượng Bác Hồ), Khu 3 (Nhà A3, Hồ sinh thái, Xưởng gỗ) và Khu 4 (Ký túc xá, Trường THPT Lâm nghiệp, Quảng trường VNUF).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Phương Thảo đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về tính đa dạng của 107 loài cây gỗ bản địa thuộc 88 chi và 38 họ thực vật tại khuôn viên Trường Đại học Lâm nghiệp. Công trình đã xác định chính xác 13 loài cây gỗ nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo tồn và xây dựng hồ sơ hình thái, phân bố cho các loài tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu khoa học quan trọng phục vụ quản lý cảnh quan thực vật học đường và nâng cao hiệu quả đào tạo thực hành lâm nghiệp tại nhà trường.