Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản Để nghiên cứu và làm rõ khái niệm này, nhiều nhà khoa học luật hình sự đã đƣa ra những quan điểm khác nhau về định tội danh: GS. Võ Khánh Vinh cho rằng: Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội đƣợc thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tƣơng ứng và mối liên hệ tƣơng đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng phƣơng pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [45, tr.
Còn theo quan điểm của TS. Dƣơng Tuyết Miên: Định tội danh đƣợc hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một ngƣời có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [20, tr. TSKH Lê Cảm nhận định: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính 9 z logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng nhƣ pháp luật tố tụng hình sự và đƣợc tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập đƣợc và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tƣơng ứng do luật hình sự quy định [5, tr. Trịnh Quốc Toản cho rằng: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã đƣợc thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tƣơng ứng đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự.
Nói cách khác định tội là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội nào trong số các tội phạm đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự". "Định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động tƣ duy do ngƣời tiến hành tố tụng thực hiện. Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang đƣợc kiểm tra, xác định trong mối tƣơng quan với các quy phạm pháp luật hình sự [36, tr. Lê Văn Đệ đƣa ra khái niệm: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dâu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định" [37, tr.108] Có thể nhận thấy, về cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dƣới đây: Một là, định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con 10 z ngƣời về việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xảy ra trong thực tiễn với quy định của pháp luật hình sự về một tội phạm cụ thể; Hai là, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu đƣợc thực hiện bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền trong các cơ quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật.
Cũng có quan điểm cho rằng bao gồm cả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng; Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội (trong trƣờng hợp định tội danh chính thức). Từ cơ sở lý luận cùng với các quy định của Bộ luật hình sự có thể đƣa ra khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nhƣ sau: Định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là hoạt động thực ti n áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan có thẩm quyền và người có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (khi áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 thì đƣợc quy định trong Điều 173), từ đó xác định một người có phạm tội trộm c p tài sản hay không, và phạm tội theo khoản nào của điều luật này, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt đối với người phạm tội. Từ khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản phản ánh các đặc điểm cơ bản sau đây: 11 z * Một là, định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là định tội danh đối với một loại tội phạm cụ thể: trộm c p tài sản. Điều 138 Bộ luật hình sự quy định: "Người nào trộm c p tài sản của người khác có giá trị từ.
Nhƣ vậy, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi trộm cắp, là biểu hiện cơ bản của tội phạm. Hành vi khách quan đặc trƣng của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy đi tài sản của ngƣời khác với mục đích chiếm đoạt tài sản đó. Lén lút có nghĩa là ngƣời phạm tội có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình đối với ngƣời chủ sở hữu hoặc ngƣời quản lý tài sản khi phạm tội. Trƣờng hợp ngƣời lấy tài sản chỉ che giấu hành vi phạm tội của mình đối với ngƣời chủ sở hữu hoặc ngƣời quản lý, bảo vệ tài sản nhƣng lại để ngƣời khác thấy đƣợc hành vi phạm tội của mình thì vẫn phạm tội trộm cắp tài sản [43, tr.
Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 qui định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản". Còn Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, tại Khoản 1 Điều 105 quy định: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản". Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu nhất định của con ngƣời, tồn tại dƣới một dạng nhất định, nằm trong sự chiếm hữu của con ngƣời, có đặc trƣng giá trị và trở thành đối tƣợng của giao dịch dân sự. Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản.
Khi là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản, vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con ngƣời. Tài sản là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản còn có thể là tiền, giấy tờ trị giá đƣợc bằng tiền. Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nƣớc ngoài. Những loại tiền cũ có giá trị văn hóa lịch sử khi bị trộm cắp không đƣợc coi là tiền theo nghĩa này mà phải coi là vật nhƣ đã phân tích [16, tr.
Những giấy tờ có giá rất đa dạng. Tuy nhiên, phân tích Quy chế phát 12 z hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QĐ- NHNN của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ngày 04 tháng 01 năm 2005, thì chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản. Có thể nhận thấy, không phải bất cứ tài sản nào cũng là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản. Có những tài sản mà tội phạm không thể lấy trộm đƣợc, và có những tài sản không đƣợc coi là đối tƣợng tác động của tội phạm.
Cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, đó là "Quyền tài sản". "Quyền tài sản" là một dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy đƣợc, nó gắn liền với quyền nhân thân và cố định với một chủ thể cụ thể đƣợc pháp luật công nhận. "Quyền tài sản" phải đƣợc pháp luật thừa nhận thì mới có giá trị. Do đó, nó không thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi ngƣời khác; Thứ hai, tài sản là bất động sản có tính chất vật lý cố định, ví dụ nhƣ: đất đai, nhà cửa, ao hồ.
Những loại tài sản này là không dịch chuyển đƣợc bởi ngƣời thực hiện hành vi trộm cắp, nên không thể là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản; Thứ ba, một số loại tài sản nhƣ: tài sản vô chủ; tài sản bị rơi, bị bỏ quên, thất lạc; tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó; những giấy tờ có giá trị, nhƣng không trực tiếp chuyển thành tiền đƣợc; tài sản thuộc các loại có tính chất và công dụng đặc biệt. Thứ tư, tài sản là tài nguyên, thiên nhiên nhƣ không khí, gió biển, tài nguyên trong lòng đất * Hai là, định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật, nếu chủ thể định tội danh là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền Hoạt động định tội danh do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và 13 z ngƣời có thẩm quyền tiến hành phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Mọi sự vi phạm pháp luật tố tụng đều có nguy cơ dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt ngƣời phạm tội, hạn chế hiệu quả của cuộc đấu tranh.