CHƯƠNG 1 ĐẤT VÀ NGƯỜI NINH BÌNH 1.1 Vị trí địa lí, dân cư Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ với dãy núi Tam Điệp làm ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định ở phía đông và đông bắc là hệ thống sông Đáy bao quanh. Phía bắc là tỉnh Hòa Bình, phía nam là biển đông.Tỉnh có quốc lộ 1A, quốc lộ 10 và đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua. Do tác động của các điều kiện tự nhiên nên từ xưa Ninh Bình được coi là cổ họng của Bắc Nam, là địa bàn chiến lược của nhiều triều đại.
Ninh Bình hiện nay có 2 thành phố là: thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp và 6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn với tổng số 127 xã, 17 phường, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1384.1 km2, dân số trung bình năm 2001 là 905.795 người, mật độ dân số trung bình là 654 người/km2, đại bộ phận nhân dân trong tỉnh là người Kinh, có 18149 người thuộc dân tộc Mường sinh sống chủ yếu ở một số xã thuộc huyện Nho Quan và một số ít thuộc thành phố Tam Điệp. Có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và Thiên chúa giáo. Ninh Bình ở cực Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Tam Điệp là phần cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình – Thanh Hóa nên nó được coi là địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên. Đây là nét đặc điểm địa lí lớn nhất có ảnh hưởng nhiều mặt tới khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng và các điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Ninh Bình.
Đặc điểm địa lí thứ hai là giao thông đường bộ, đường sắt Bắc Nam rất thuận lợi. Ninh Bình nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90km. Đặc điểm địa lí thứ ba là Ninh Bình có các hệ thống giao thông đường thủy rất thuận tiện với các con sông lớn: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân Sàng, sông Vạc tạo điều kiện cho quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh trong khu vực và cả nước. download by : skknchat@gmail.com 10 Đặc điểm địa lí thứ tư là Ninh Bình vừa có rừng giàu vừa có đồng bằng phì nhiêu lại vừa có biển cả giàu thủy hải sản đặc biệt là vùng đất mở Kim Sơn hàng năm đất bồi ra biển Đông từ 80 đến 100m làm cho diện tích đất tự nhiên của Ninh Bình không ngừng được mở rộng.
Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II. Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào.
Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua. Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất mở. Ninh Bình trở thành một nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía Bắc, và từ lưu vực sông Hồng vào phía Nam từ vùng núi xuống biển, và từ ven biển lên núi. Với vị trí địa lí cùng những điều kiện tự nhiên thuận lợi nên con người xuất hiện ở đây từ rất sớm.
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy trầm tích có xương của răng đười ươi và các động vật trên cạn ở Tam Điệp và một số hang động khác của kỳ đồ đá cũ thuộc nền Văn hóa Tràng An, động Người Xưa ở Cúc Phương và một số hang động ở thành phố Tam Điệp, huyện Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn ở huyện Yên Mô đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc huyện Yên mô ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu.
Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳ văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn. Cảnh quan vùng rừng núi Nho Quan, Tam Điệp và phía tây bắc huyện Yên Mô hình dung về hàng ngàn hàng vạn năm trước, chúng ta có thể thấy đây là khu vực download by : skknchat@gmail.com 11 sinh sống thuận lợi với người nguyên thủy bởi nơi đây có hai địa hình xen kẽ nhau là địa hình Caxto và địa hình xâm thực. Đồi núi chủ yếu được tạo nên bằng đá vôi và trầm tích lục nguyên. Trên địa hình như vậy, thời Tiền sử và Sơ sử đây là khu vực của các hang động đá vôi và của rừng, chắc chắn khu cảnh quan và sinh thái ấy sẽ là nơi rất hấp dẫn đối với người Tiền sử Đông Nam Á.
Tại Tam Điệp, một nhà khảo cổ học người Pháp đã có một phát hiện rất đáng chú ý. Đó là một sọ người được tìm thấy ở hang Chợ Ghềnh. Ông cho rằng, đây là một sọ Indonesien, là một loại hình nhân chủng có mặt phổ biến ở Việt Nam từ đầu thời đại Đá mới đến thời đại Kim khí. Sọ chợ Ghềnh trong nhiều số đó rất gần với những sọ Indonesien tìm thấy được ở hang Cườm (Lạng Sơn), điển hình của chủ nhân văn hóa Bắc Sơn.
Cũng tại hang Chợ Ghềnh, nhà khảo cổ học người Pháp là M.Colani, vào năm 924 đã phát hiện ra một dấu tích thời đại Đồng thau vừa có yếu tố văn hóa vùng sông Hồng vừa có yếu tố văn hoá vùng sông Mã. Nhiều nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã coi đây là một trường hợp quý hiếm, thú vị để khảo sát hiện tượng giao lưuvăn hóa trong thời kì Tiền Đông Sơn. Điều đặc biệt đặc biệt đáng chú ý ở đây, trên những mảnh trạc gốm có chi chít vỏ trấu, bằng chứng cho sự tồn tại của nghề trồng lúa thời bấy giờ. Hiện nay, theo một số tài liệu tương đối đầy đủ có thể khẳng định rằng, con người đã có mặt ở Ninh Bình từ thời đại đá cũ.
Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở hang Thung Lang (nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Tam Điệp) do nhà địa chất học người Pháp phát hiện vào năm 1948. Các nhà khảo cổ học khẳng định người Thung Lang cùng loại hình với người Kéo Lèng (Lạng Sơn). Giới sử học gọi là Người Khôn Ngoan có niên đại là ba mươi nghìn năm. Điều đó chứng tỏ từ Hậu kì Đá cũ đã có con người cư trú trên đất Ninh Bình.
Ở Ninh Bình, cho đến nay đã phát hiện được năm chiếc trống đồng, trong đó có một chiếc trống Đông Sơn muộn và bốn chiếc trống loại II Hê-gơ, còn được gọi là trống Mường. Trong các núi đá của Hoa Lư, Tam Điệp đến nay đã tìm thấy khá nhiều rìu đá có vai, thuộc hậu kỳ Đồ đá mới. Sơ kỳ đồng thau cách ngày nay trên 4000 năm. Một phát hiện rất đáng chú ý gần đây ở di chỉ Mán Bạc thuộc xã Yên Thành download by : skknchat@gmail.com 12 huyện Yên Mô khai quật vào tháng 3 năm 1999, các nhà khảo cổ đã thu thập được rất nhiều hiện vật đồ đá như rìu, lao, dục, chì lưới, bàn mài…Điều đó đã chứng tỏ, con người đã từ rừng núi tiến dần ra đồng bằng ven biển để sinh sống.
Rõ ràng, Ninh Bình là một trong những vùng đất quan trọng, góp phần tạo dựng nên nền Văn minh Văn Lang-Âu Lạc. Từ những điều kiện về tự nhiên và sự xuất hiện sớm của con người, Ninh Bình trở thành nơi có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, có truyền thống lịch sử lâu đời tạo tiền đề cho sự xuất hiện những anh hùng vang danh.2 Ninh Bình- Vùng đất giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm Nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và lao động cần cù để góp phần xây dựng và bảo vệ giang sơn Việt Nam gấm vóc qua nhiều thời đại. Truyền thống đó đã trở thành di sản tinh thần vô giá của nhân dân Ninh Bình. Ninh Bình có hai dân tộc Kinh và Mường, đã chung lưng đấu cật, đã kề vai sát cánh xây dựng và bảo vệ quê hương từ thủa khai sơn phá thạch, dựng cơ đồ.
Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa truyền thống và phong tục riêng nhưng đều có một bản chất chung nhất là cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh chống các thiên tai, giặc ngoại xâm, yêu quê hương đất nước, chất phác, giản dị và có khí tiết. Vào đầu công nguyên, nghĩa quân Hai Bà Trưng đã từng dựa vào tuyến địa hình núi rừng từ chân núi Ba Vì đến Tam Điệp – Thần Phù để chống lại cuộc tiến công đàn áp của quân Hán do Mã Viện đứng đầu. Khi căn cứ Cấm Khê vào tay giặc nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp – Thần Phù để tiếp tục cuộc kháng chiến. Nhân dân các vùng này vừa bảo vệ nghĩa quân vừa cung cấp lương thực và tích cực tham gia cùng nghĩa quân để đánh giặc.
Đường biển qua Thần Phù lúc bấy giờ rất trắc trở sóng to gió lớn, đi lại nguy hiểm. Mã Viện phải chỉ huy quân lính phá núi, mở đường thủy gọi là Tạc Khẩu để vào Thanh Hóa. Ở đầu thế kỉ X, tướng Ngô Quyền đã lựa chọn bức tường thành Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán, làm nên chiến công vang dội ở Đại La năm 930 và Bạch Đằng 938. download by : skknchat@gmail.com 13 Núi rừng Gia Viễn, Hoa Lư hiểm trở đã từng là căn cứ địa và cung cấp nhiều nhất sức người cũng như vật chất để Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn các sứ quân và lên ngôi hoàng đế.
Ninh Bình trở thành áo giáp đồng thời là hậu cứ vững chắc của vua tôi nhà Trần xuất quân đánh giặc. Năm 1400, nhà Minh xâm lược nước ta, Trần Ngỗi thuộc dòng dõi nhà Trần đã lấy một vùng đất ở Yên Mô mà cụ thể là vùng đất Mộ Độ để xây dựng căn cứ địa kháng chiến.