Truyền thuyết & Lễ hội Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình: Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu truyền thuyết, lễ hội Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình. Khám phá văn hóa, lịch sử và tín ngưỡng dân gian về vị vua khai triều.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẤT VÀ NGƯỜI NINH BÌNH

1.1. Vị trí địa lí, dân cư

2. CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐINH TIÊN HOÀNG

3. CHƯƠNG 3: LỄ HỘI TRƯỜNG YÊN VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ ĐINH TIÊN HOÀNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Truyền Thuyết Lễ Hội Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình

Ninh Bình, vùng đất địa linh nhân kiệt, nổi tiếng với Cố đô Hoa Lư và những trang sử hào hùng. Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh), vị vua sáng lập triều Đinh, là nhân vật trung tâm của những truyền thuyết và lễ hội đặc sắc nơi đây. Luận văn này tập trung khai thác sâu sắc truyền thuyết Đinh Tiên Hoànglễ hội Trường Yên, hai yếu tố then chốt định hình văn hóa Ninh Bìnhlịch sử Việt Nam. Vùng đất này không chỉ là nơi lưu giữ những di tích lịch sử mà còn là không gian văn hóa sống động, nơi người dân truyền đời những câu chuyện về người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh. Sự nghiệp thống nhất đất nước của ông, dấu ấn Nhà Đinh tại Hoa Lư, và những giá trị lịch sử sâu sắc đều được phản ánh qua lăng kính truyền thuyếtlễ hội Trường Yên. Các yếu tố như vị trí địa lý, con người, và di sản văn hóa Ninh Bình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tín ngưỡng dân gian và niềm tự hào dân tộc. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về Đinh Tiên Hoàng mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, điền dã, và liên ngành để làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của chủ đề. Nguồn tư liệu phong phú bao gồm cả thư tịch cổ và các bản kể truyền miệng được thu thập trong quá trình điền dã, cùng với việc khảo sát lễ hội Trường Yên, tạo nên nền tảng vững chắc cho những phân tích và kết luận của luận văn. Lễ hội Trường Yên là nơi Truyền thuyết Đinh Tiên Hoàng được tái hiện một cách sống động nhất.

Trích dẫn từ tài liệu gốc: 'Trong đó, Đinh Tiên Hoàng là vị vua sáng nghiệp có công lao to lớn trong việc dẹp yên loạn lạc, xóa bỏ tình trạng cát cứ làm suy yếu đất nước, xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên, có quân đội hùng mạnh, có pháp chế nghiêm minh.'

1.1. Vấn Đề Nghiên Cứu Truyền Thuyết Sử Thi Đinh Tiên Hoàng

Mặc dù Đinh Tiên Hoàng là nhân vật lịch sử nổi tiếng, các nghiên cứu chuyên sâu về ông còn khá hạn chế. Các công trình hiện tại thường chỉ đề cập đến một số khía cạnh như sự nghiệp, công trạng, hoặc kiến trúc đền thờ. Luận văn này đặt ra mục tiêu nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về truyền thuyết Đinh Tiên Hoàng, phân tích những motif cơ bản và quy luật sinh thành, diễn tiến của nó. Đồng thời, luận văn cũng tập trung vào lễ hội Trường Yên, tìm hiểu mối quan hệ gắn kết giữa truyện kể dân gian và lễ hội. Truyền thuyếtsử thi về Đinh Tiên Hoàng vừa phong phú vừa có nhiều nội dung mới. Học viên với ưu thế bản địa hy vọng có thể có đóng góp về mặt tư liệu, bổ sung những tư liệu mới trong quá trình điền dã. Hướng nghiên cứu của luận văn hứa hẹn mang lại nhiều điểm mới mẻ đồng thời giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện nhất về Đinh Tiên Hoàng.

1.2. Mục Tiêu Hệ Thống Tư Liệu Phân Tích Motif Truyền Thuyết

Luận văn hướng đến hệ thống hóa các nguồn tư liệu truyện kể về Đinh Tiên Hoàng, phân tích những motif của chuỗi truyện này để khẳng định giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Bên cạnh đó, luận văn cũng tìm hiểu lễ hội Trường Yên, chỉ ra mối quan hệ gắn kết giữa truyện kể dân gian và lễ hội. Truyền thuyết Con của Rái cá là một type truyền thuyết phổ biến ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, gắn với các đế vương khởi nghiệp như Triệu Khuông Dẫn, Chu Nguyên Chương, Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, Đinh Tiên Hoàng là một trong những nhân vật truyền thuyết hiếm hoi có xuất thân là con của Rái cá. Luận văn này sẽ góp một phần nhỏ để lí giải điều đó.

1.3. Phương Pháp Kết Hợp Thống Kê Điền Dã Liên Ngành

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm phương pháp thống kê để tập hợp và hệ thống hóa các bản kể truyền thuyết Đinh Tiên Hoàng, phương pháp phân tích và tổng hợp để phân tích các mẩu truyện và motif, phương pháp điền dã để tìm hiểu đời sống của lễ hội Trường Yên, và phương pháp liên ngành để xem xét truyền thuyết dân gian dưới nhiều góc độ. Với ưu thế là người bản địa, chúng tôi đã có gắng tìm đến tận nơi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng vua Lê ở Ninh Bình và một số nơi gắn với tên tuổi và truyền thuyết của vua Đinh Tiên Hoàng trong tỉnh. Đặc biệt, chúng tôi có điều kiện tham dự lễ hội Trường Yên vào tháng Ba âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội có quy mô lớn nhất trong tỉnh thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham dự.

II. Ninh Bình Vùng Đất Địa Linh Nhân Kiệt Thời Đinh Tiên Hoàng

Ninh Bình, vùng đất cực nam đồng bằng Bắc Bộ, là địa bàn chiến lược quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Vị trí địa lý đặc biệt đã tạo nên những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh. Ninh Bình không chỉ là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa mà còn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Người dân Ninh Bình đã đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước qua nhiều thời đại. Vùng đất này cũng là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, trong đó có Đinh Tiên Hoàng, người có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Ninh Bình là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa, từ văn hóa bản địa đến văn hóa giao thoa, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú. Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Ninh Bình, cùng với những câu chuyện truyền thuyếtlễ hội đặc sắc, đã góp phần làm nên bản sắc riêng của vùng đất này. Ninh Bình vừa có rừng giàu vừa có đồng bằng phì nhiêu lại vừa có biển cả giàu thủy hải sản đặc biệt là vùng đất mở Kim Sơn hàng năm đất bồi ra biển Đông từ 80 đến 100m làm cho diện tích đất tự nhiên của Ninh Bình không ngừng được mở rộng. Nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và lao động cần cù để góp phần xây dựng và bảo vệ giang sơn Việt Nam gấm vóc qua nhiều thời đại.

2.1. Vị Trí Địa Lý Dân Cư Yếu Tố Hình Thành Văn Hóa Ninh Bình

Ninh Bình nằm ở vị trí chiến lược, là cổ họng của Bắc Nam, có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua. Tỉnh có địa hình đa dạng, vừa có rừng núi, đồng bằng, vừa có biển cả. Dân cư chủ yếu là người Kinh, có một bộ phận người Mường sinh sống ở vùng núi. Ninh Bình là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa, tạo nên một bản sắc riêng biệt. Ninh Bình hiện nay có 2 thành phố là: thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp và 6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn với tổng số 127 xã, 17 phường, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1384.1 km2, dân số trung bình năm 2001 là 905.795 người, mật độ dân số trung bình là 654 người/km2.

2.2. Truyền Thống Chống Giặc Bản Sắc Anh Hùng Thời Đinh Tiên Hoàng

Nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và lao động cần cù. Trong lịch sử, Ninh Bình đã từng là căn cứ địa của nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Đinh Tiên Hoàng đã dựa vào địa thế hiểm trở của Hoa Lư để dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Truyền thống yêu nước và tinh thần thượng võ của người dân Ninh Bình đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách trong lịch sử dân tộc. Núi rừng Gia Viễn, Hoa Lư hiểm trở đã từng là căn cứ địa và cung cấp nhiều nhất sức người cũng như vật chất để Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn các sứ quân và lên ngôi hoàng đế.

2.3. Di Sản Văn Hóa Vật Thể Đền Thờ Khu Di Tích Cố Đô Hoa Lư

Ninh Bình có nhiều di sản văn hóa vật thể phong phú, bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Đền thờ Đinh Tiên Hoàngkhu di tích Cố đô Hoa Lư là những điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Kiến trúc độc đáo và những giá trị lịch sử văn hóa của các di tích này đã góp phần làm nên vẻ đẹp riêng của Ninh Bình. Ninh Bình cũng lưu giữ ba bảo vật quốc gia cùng hàng ngàn di vật, cổ vật được lưu giữ tại bảo tàng tỉnh, các bảo tàng tư nhân và các di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh. Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ vua Lê Đại Hành (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư) – đây là nơi duy nhất ở Việt Nam thờ đồng có nghĩa là thờ các vua các con và có bài vị thờ các tướng.

III. Truyền Thuyết Đinh Tiên Hoàng Từ Bản Kể Đến Motif Nổi Bật

Truyện kể dân gian về Đinh Tiên Hoàng khá phong phú, xoay quanh sự ra đời kỳ lạ, tài năng thủa thiếu thời, công dẹp loạn 12 sứ quân và cái chết của hai cha con. Các truyền thuyết này đã trở thành một phần lịch sử tâm linh, khẳng định sức sống lâu bền của nhân vật. Qua khảo sát, tổng hợp, chúng tôi thấy các bản kể thành văn và truyền miệng đều có những điểm tương đồng và khác biệt. Tuy nhiên, tất cả đều tập trung kể về cuộc đời và sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng, nhấn mạnh vai trò của ông trong việc thống nhất đất nước và xây dựng Nhà Đinh. Các bản kể thành văn được xuất bản, in ấn hoặc đăng trên các tạp chí và hệ thống truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng còn phong phú và triển nở hơn rất nhiều với nhiều cành nhánh rậm rạp khác mà đến nay nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ. Luận văn đi sâu vào phân tích những motif nổi bật trong truyền thuyết Đinh Tiên Hoàng, như motif sinh nở thần kỳ, motif thần đồng, motif tài năng, motif nhân duyên với Hoàng hậu họ Dương, và motif các tướng lĩnh tài ba. Việc phân tích motif giúp làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, tư tưởng, và lịch sử được truyền tải trong truyền thuyết.

3.1. Các Bản Kể So Sánh Tư Liệu Thành Văn Truyền Miệng

Luận văn so sánh các bản kể thành văn và truyền miệng về Đinh Tiên Hoàng, chỉ ra những điểm khác biệt về chi tiết và cách diễn giải. Các bản kể thành văn có tính hệ thống và chính xác hơn, trong khi các bản kể truyền miệng lại mang tính linh hoạt và biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên, cả hai loại bản kể đều góp phần tạo nên bức tranh toàn diện về Đinh Tiên Hoàng. Chúng tôi thống kê được 17 bản kể xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng. Các truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng được lưu truyền đến ngày nay đã trở thành một phần lịch sử tâm linh, khẳng định sức sống lâu bền của các nhân vật của một thời đại lịch sử.

3.2. Motif Sinh Nở Thần Kỳ Dấu Vết Tín Ngưỡng Totem Cá

Motif sinh nở thần kỳ là một trong những motif phổ biến trong truyền thuyết về các anh hùng. Trong truyền thuyết Đinh Tiên Hoàng, motif này được thể hiện qua chi tiết mẹ ông nằm mộng thấy thần nhân đầu thai, hoặc qua câu chuyện bà bị rái cá hãm hiếp. Motif này có thể liên quan đến tín ngưỡng totem cá, một hiện tượng văn hóa quan trọng của nhân loại thời kỳ đầu. Quan điểm sùng bái động vật - một hiện tượng văn hóa quan trọng và phổ biến của nhân loại thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thế giới quan vạn vật hữu linh. Trong quá trình tiếp xúc với động vật, loài người đã phát hiện ra những năng lực đặc biệt của nó, từ đó nảy sinh cảm giác sùng bái.

3.3. Tài Năng Thần Đồng Khả Năng Bơi Lội Dùng Binh

Đinh Tiên Hoàng được dân gian xây dựng lên là hình tượng thần đồng. ngay từ nhỏ đã có biệt tài bơi lặn dưới nước. Chính nhờ biệt tài này mà Bộ Lĩnh đã đánh tráo hài cốt của vị khách người Tàu để mả kết hàm rồng. Không những vậy, Đinh Bộ Lĩnh còn rất giỏi về khả năng dùng binh ngay từ nhỏ, ông thường cùng trẻ chăn trâu trong làng đi đánh các trẻ trâu làng khác để tranh bãi cỏ. Đến đâu, bọn trẻ cũng đều nể phục, tôn lên làm trưởng.

IV. Đền Thờ Vua Đinh Tiên Hoàng Di Tích Lịch Sử Lễ Hội Truyền Thống

Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một di tích nằm trong quần thể quan trọng thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của quần thể di sản cố đô Hoa Lư. Đền được xây dựng ngay trên nền cung điện cũ ở xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình. Vị trí của đền chính là trung tâm thành Đông của kinh đô xưa. Hàng năm, tại đây diễn ra lễ hội Trường Yên để tưởng nhớ hai vị vua. Lễ hôi diễn ra rất long trọng. Khu vực này, các nhà khảo cổ học đã tìm đến để khảo nghiệm và kết quả đào được một mảng sân gạch có họa tiết hoa sen và đôi phượng vờn nhau và một số chi tiết khác chứng tỏ đây là những viên gạch thời Đinh - Lê. Đây là nơi duy nhất ở nước ta thờ cả Vua Đinh Tiên Hoàng, cha mẹ ông cùng các con trai và có bài vị thờ các tướng triều Đinh. Hằng năm vào ngày 8 đến 10 tháng 3 âm lịch, địa phương Ninh Bình tưng bừng mở hội để tưởng nhớ công ơn của vị vua Đinh, vị vua đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc.

4.1. Kiến trúc đền thờ Đinh Tiên Hoàng Tổng quan về kiến trúc

Ngay từ bé Đinh Bộ Lĩnh đã rất ham mê trận mạc, thường rủ bạn bè chăn trâu cùng làng ra bãi để tập trận giả. Đám trẻ thường chia thành hai phe để tập trận. Lấy trâu giả làm voi, ngựa…lấy bông lau làm cờ xí, lấy tre đẽo gỗ thành gươm giáo. Đinh Bộ Lĩnh lúc nào cũng được bọn trẻ nhất tề cử làm tướng chỉ huy. Vì chú bé có sức khỏe, nhanh nhẹn, hoạt bát, lại hay nghĩ ra nhiều trò chơi hay. Nếu chia làm hai phe, bao giờ phe Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy cũng thắng trận. Sau mỗi lần thắng trận, Đinh Bộ Lĩnh thường được lũ trẻ công kênh làm kiệu rất long trọng. Hằng ngày, trên những cánh đồng, Bộ Lĩnh đã tụ tập trẻ chăn trâu làng mình lại, kéo đi đánh các động khác trong vùng để tranh bãi cỏ. Các động khác đều chịu thua, phục tài Bộ Lĩnh, bèn bàn nhau góp gạo, kiếm củi, thổi cơm phục dịch. Thấy vậy, phụ lão các động , các sách nói với nhau “Đứa trẻ này khí lượng như thế ắt làm lên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn”

4.2. Ý Nghĩa Lịch Sử Văn Hóa Đền Thờ Vua Đinh

Có một điều đặc biệt đây chính là nơi duy nhất ở nước ta thờ cả Vua Đinh Tiên Hoàng, cha mẹ ông cùng các con trai và có bài vị thờ các tướng triều Đinh. Đền Vua Đinh được xây dựng mang đậm màu sắc á đông theo kiểu nội công ngoại quốc, trục chính đạo hướng đông. Trước mặt đền là một quả núi có hình dáng giống cái yên ngựa nên được gọi là níu Mã Yên, trên núi có lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng. Hiện Lăng mộ của ông đặt trên đỉnh núi Mã Yên, được một bà cụ tình nguyện hàng ngày chăm sóc, quét dọn.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 ĐẤT VÀ NGƯỜI NINH BÌNH 1.1 Vị trí địa lí, dân cư Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ với dãy núi Tam Điệp làm ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định ở phía đông và đông bắc là hệ thống sông Đáy bao quanh. Phía bắc là tỉnh Hòa Bình, phía nam là biển đông.Tỉnh có quốc lộ 1A, quốc lộ 10 và đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua. Do tác động của các điều kiện tự nhiên nên từ xưa Ninh Bình được coi là cổ họng của Bắc Nam, là địa bàn chiến lược của nhiều triều đại.

Ninh Bình hiện nay có 2 thành phố là: thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp và 6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn với tổng số 127 xã, 17 phường, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1384.1 km2, dân số trung bình năm 2001 là 905.795 người, mật độ dân số trung bình là 654 người/km2, đại bộ phận nhân dân trong tỉnh là người Kinh, có 18149 người thuộc dân tộc Mường sinh sống chủ yếu ở một số xã thuộc huyện Nho Quan và một số ít thuộc thành phố Tam Điệp. Có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và Thiên chúa giáo. Ninh Bình ở cực Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Tam Điệp là phần cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình – Thanh Hóa nên nó được coi là địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên. Đây là nét đặc điểm địa lí lớn nhất có ảnh hưởng nhiều mặt tới khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng và các điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Ninh Bình.

Đặc điểm địa lí thứ hai là giao thông đường bộ, đường sắt Bắc Nam rất thuận lợi. Ninh Bình nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90km. Đặc điểm địa lí thứ ba là Ninh Bình có các hệ thống giao thông đường thủy rất thuận tiện với các con sông lớn: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân Sàng, sông Vạc tạo điều kiện cho quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh trong khu vực và cả nước. download by : skknchat@gmail.com 10 Đặc điểm địa lí thứ tư là Ninh Bình vừa có rừng giàu vừa có đồng bằng phì nhiêu lại vừa có biển cả giàu thủy hải sản đặc biệt là vùng đất mở Kim Sơn hàng năm đất bồi ra biển Đông từ 80 đến 100m làm cho diện tích đất tự nhiên của Ninh Bình không ngừng được mở rộng.

Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II. Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào.

Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua. Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất mở. Ninh Bình trở thành một nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía Bắc, và từ lưu vực sông Hồng vào phía Nam từ vùng núi xuống biển, và từ ven biển lên núi. Với vị trí địa lí cùng những điều kiện tự nhiên thuận lợi nên con người xuất hiện ở đây từ rất sớm.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy trầm tích có xương của răng đười ươi và các động vật trên cạn ở Tam Điệp và một số hang động khác của kỳ đồ đá cũ thuộc nền Văn hóa Tràng An, động Người Xưa ở Cúc Phương và một số hang động ở thành phố Tam Điệp, huyện Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn ở huyện Yên Mô đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc huyện Yên mô ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu.

Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳ văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn. Cảnh quan vùng rừng núi Nho Quan, Tam Điệp và phía tây bắc huyện Yên Mô hình dung về hàng ngàn hàng vạn năm trước, chúng ta có thể thấy đây là khu vực download by : skknchat@gmail.com 11 sinh sống thuận lợi với người nguyên thủy bởi nơi đây có hai địa hình xen kẽ nhau là địa hình Caxto và địa hình xâm thực. Đồi núi chủ yếu được tạo nên bằng đá vôi và trầm tích lục nguyên. Trên địa hình như vậy, thời Tiền sử và Sơ sử đây là khu vực của các hang động đá vôi và của rừng, chắc chắn khu cảnh quan và sinh thái ấy sẽ là nơi rất hấp dẫn đối với người Tiền sử Đông Nam Á.

Tại Tam Điệp, một nhà khảo cổ học người Pháp đã có một phát hiện rất đáng chú ý. Đó là một sọ người được tìm thấy ở hang Chợ Ghềnh. Ông cho rằng, đây là một sọ Indonesien, là một loại hình nhân chủng có mặt phổ biến ở Việt Nam từ đầu thời đại Đá mới đến thời đại Kim khí. Sọ chợ Ghềnh trong nhiều số đó rất gần với những sọ Indonesien tìm thấy được ở hang Cườm (Lạng Sơn), điển hình của chủ nhân văn hóa Bắc Sơn.

Cũng tại hang Chợ Ghềnh, nhà khảo cổ học người Pháp là M.Colani, vào năm 924 đã phát hiện ra một dấu tích thời đại Đồng thau vừa có yếu tố văn hóa vùng sông Hồng vừa có yếu tố văn hoá vùng sông Mã. Nhiều nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã coi đây là một trường hợp quý hiếm, thú vị để khảo sát hiện tượng giao lưuvăn hóa trong thời kì Tiền Đông Sơn. Điều đặc biệt đặc biệt đáng chú ý ở đây, trên những mảnh trạc gốm có chi chít vỏ trấu, bằng chứng cho sự tồn tại của nghề trồng lúa thời bấy giờ. Hiện nay, theo một số tài liệu tương đối đầy đủ có thể khẳng định rằng, con người đã có mặt ở Ninh Bình từ thời đại đá cũ.

Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở hang Thung Lang (nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Tam Điệp) do nhà địa chất học người Pháp phát hiện vào năm 1948. Các nhà khảo cổ học khẳng định người Thung Lang cùng loại hình với người Kéo Lèng (Lạng Sơn). Giới sử học gọi là Người Khôn Ngoan có niên đại là ba mươi nghìn năm. Điều đó chứng tỏ từ Hậu kì Đá cũ đã có con người cư trú trên đất Ninh Bình.

Ở Ninh Bình, cho đến nay đã phát hiện được năm chiếc trống đồng, trong đó có một chiếc trống Đông Sơn muộn và bốn chiếc trống loại II Hê-gơ, còn được gọi là trống Mường. Trong các núi đá của Hoa Lư, Tam Điệp đến nay đã tìm thấy khá nhiều rìu đá có vai, thuộc hậu kỳ Đồ đá mới. Sơ kỳ đồng thau cách ngày nay trên 4000 năm. Một phát hiện rất đáng chú ý gần đây ở di chỉ Mán Bạc thuộc xã Yên Thành download by : skknchat@gmail.com 12 huyện Yên Mô khai quật vào tháng 3 năm 1999, các nhà khảo cổ đã thu thập được rất nhiều hiện vật đồ đá như rìu, lao, dục, chì lưới, bàn mài…Điều đó đã chứng tỏ, con người đã từ rừng núi tiến dần ra đồng bằng ven biển để sinh sống.

Rõ ràng, Ninh Bình là một trong những vùng đất quan trọng, góp phần tạo dựng nên nền Văn minh Văn Lang-Âu Lạc. Từ những điều kiện về tự nhiên và sự xuất hiện sớm của con người, Ninh Bình trở thành nơi có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, có truyền thống lịch sử lâu đời tạo tiền đề cho sự xuất hiện những anh hùng vang danh.2 Ninh Bình- Vùng đất giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm Nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và lao động cần cù để góp phần xây dựng và bảo vệ giang sơn Việt Nam gấm vóc qua nhiều thời đại. Truyền thống đó đã trở thành di sản tinh thần vô giá của nhân dân Ninh Bình. Ninh Bình có hai dân tộc Kinh và Mường, đã chung lưng đấu cật, đã kề vai sát cánh xây dựng và bảo vệ quê hương từ thủa khai sơn phá thạch, dựng cơ đồ.

Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa truyền thống và phong tục riêng nhưng đều có một bản chất chung nhất là cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh chống các thiên tai, giặc ngoại xâm, yêu quê hương đất nước, chất phác, giản dị và có khí tiết. Vào đầu công nguyên, nghĩa quân Hai Bà Trưng đã từng dựa vào tuyến địa hình núi rừng từ chân núi Ba Vì đến Tam Điệp – Thần Phù để chống lại cuộc tiến công đàn áp của quân Hán do Mã Viện đứng đầu. Khi căn cứ Cấm Khê vào tay giặc nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp – Thần Phù để tiếp tục cuộc kháng chiến. Nhân dân các vùng này vừa bảo vệ nghĩa quân vừa cung cấp lương thực và tích cực tham gia cùng nghĩa quân để đánh giặc.

Đường biển qua Thần Phù lúc bấy giờ rất trắc trở sóng to gió lớn, đi lại nguy hiểm. Mã Viện phải chỉ huy quân lính phá núi, mở đường thủy gọi là Tạc Khẩu để vào Thanh Hóa. Ở đầu thế kỉ X, tướng Ngô Quyền đã lựa chọn bức tường thành Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán, làm nên chiến công vang dội ở Đại La năm 930 và Bạch Đằng 938. download by : skknchat@gmail.com 13 Núi rừng Gia Viễn, Hoa Lư hiểm trở đã từng là căn cứ địa và cung cấp nhiều nhất sức người cũng như vật chất để Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn các sứ quân và lên ngôi hoàng đế.

Ninh Bình trở thành áo giáp đồng thời là hậu cứ vững chắc của vua tôi nhà Trần xuất quân đánh giặc. Năm 1400, nhà Minh xâm lược nước ta, Trần Ngỗi thuộc dòng dõi nhà Trần đã lấy một vùng đất ở Yên Mô mà cụ thể là vùng đất Mộ Độ để xây dựng căn cứ địa kháng chiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ