Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận Chương 2: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất ảnh hưởng đến quy hoạch không gian mở thành phố Hà Tĩnh Chương 3. Đánh giá thực trạng không gian mở và quy hoạch không gian mở thành phố Hà Tĩnh. Đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị thành phố Hà Tĩnh. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tài liệu trong và ngoài nƣớc về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về không gian mở đô thị Các nghiên cứu về không gian mở đô thị xuất hiện khá sớm, chủ yếu là các nghiên cứu nước ngoài. Không gian mở là một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà quy hoạch cảnh quan và kiến trúc sư cảnh quan cho khu vực đất được cố tình để lại chưa xây dựng như các khu đất trống và các khu rừng trong khi đất xung quanh chúng được phát triển vào các tòa nhà và vỉa hè [5]. Trong đó khái niệm không gian mở thường nói tới một nền tảng là một phần của không gian công cộng, có thể biểu hiện ở nhiều kiểu hình thái vật lý và đặc trưng khác nhau [2].
Không gian mở công cộng, như công viên, không gian xanh, khu thể thao, khu bảo tồn và khu di sản, quảng trường, không gian lưu thông…từ lâu đã được coi là nơi tập trung thỏa mãn về mặt tinh thần của những hoạt động khác nhau và thúc đẩy những hoạt động xã hội, ràng buộc xã hội, tạo ra không gian cộng đồng và địa điểm kết nối trong đô thị [2]. Các nghiên cứu thường tập trung vào hướng tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu không gian mở đô thị. Theo tiếp cận này, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng: không gian mở đô thị được thống trị bởi một môi trường tự nhiên, bao gồm các nhân tố vô sinh (đất, nước, chất khoáng) và nhân tố hữu sinh (thực vật, động vật, vi sinh vật)…Không gian mở, nói theo cách khác được đặc trưng bởi những can thiệp ở mức độ thấp đến mức không làm thay đổi bản chất tự nhiên bên trong nó, ở đây con người chấp nhận để nó sẽ tiếp tục giữ chức năng của những hệ sinh thái và sự bảo tồn giá trị của tự nhiên và cảnh quan [5]. Các khu vườn đô thị, công viên và khu vực cây xanh thực sự có thể đóng góp cho địa phương đa dạng sinh học ở khu vực đô thị nếu tuân theo các quy luật sinh thái, được kết nối với nhau thành một mạng lưới xanh và được quản lý về mặt sinh thái như là một quá trình để khôi phục mô hình đa dạng sinh học thú vị thuộc về bản địa [6].
Không gian mở, với giá trị của nó về mặt cảnh quan, tinh thần và nổi bật là giá trị dịch vụ sinh thái mà nó mang lại được nhiều nghiên cứu chú ý đến để giải quyết các vấn đề trong hệ sinh thái đô thị như: vấn đề thành phố mở rộng và không 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gian mở bị tách biệt ra khỏi trung tâm thành phố, nơi ở của số đông cư dân đô thị sống trong điều kiện đông đúc nghèo nàn về điều kiện sinh thái [5], vấn đề cân bằng sinh thái và giảm thiểu tác động của tai biến thiên nhiên [7][8][9]. Ngoài ra, một trong những ứng dụng phổ biến nhất về giá trị của không gian mở là về giá trị tận hưởng (HP) và những giá trị ngẫu nhiên (CV). Trong đó HP nói đến tác động của khoảng cách không gian mở đến giá trị tài sản trong khi CV lại hướng đến việc định giá không gian mở trong tổ chức nhóm diện tích của nó [10]. Trong các không gian hợp phần của hệ thống không gian mở đô thị, yếu tố thảm xanh và mặt nước đô thị là hai yếu tố được chú ý nhiều nhất.
Các nghiên cứu về không gian xanh đô thị thường đánh giá tác động của thảm xanh đô thị trong việc điều hòa vi khí hậu và giảm thiểu tác động đảo nhiệt đô thị, cụ thể như: các tác động của phản xạ bề mặt, bốc hơi, và sưởi ấm con người gây ra đối với khí hậu gần bề mặt thảm xanh, mô phỏng số và đo đạc hiện trường cho thấy rằng việc tăng độ phản xạ và thảm thực vật có thể có hiệu quả trong việc làm giảm nhiệt độ bề mặt và không khí gần mặt đất [11]. Việc đo đạc số liệu đảo nhiệt đô thị UHI (Urban Heat Island) được thực hiện bằng cách sử dụng nhiệt độ không khí ở cả mái nhà và đường phố. Sự khác nhau về nhiệt độ giữa các khu phố, hoạt động đô thị và các thành phần đô thị có thể thay đổi đến 100C [12]. Với sự gia tăng nhận thức trên toàn thế giới về ảnh hưởng của phát triển đô thị đối với các chức năng thủy văn của nước, áp lực ngày càng tăng lên trong quy hoạch đô thị để đóng vai trò lớn hơn trong quản lý tài nguyên nước.
Kế hoạch cho các không gian mở đặc biệt có thể đóng một vai trò rất quan trọng, vì chúng hỗ trợ các dịch vụ hệ sinh thái đô thị, bao gồm cả việc hỗ trợ trong quản lý lũ lụt. Người ta đã lập luận rằng các mạng lưới không gian xanh mở rộng được lập kế hoạch và lập kế hoạch chiến lược sẽ hỗ trợ cho việc lập kế hoạch sử dụng đất và các quy trình thiết kế sớm, cùng với việc xem xét các giá trị hệ sinh thái liên quan đến nước và các chức năng cảnh quan cùng với phát triển đất đai [13]. Việc bảo vệ không gian mở đang ngày càng được sử dụng để giảm nhẹ lũ lụt ở cấp địa phương. Nghiên cứu cho thấy ngay cả khi kiểm soát các biến môi trường, kinh tế xã hội và chính sách, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc bảo vệ không gian mở là một công cụ quy hoạch sử dụng đất quan trọng để giảm thiểu các tác động tiêu cực của các trận lụt ở Mỹ [14].
Các quy hoạch đô thị tích hợp không gian mở đang dần phổ biến và trở thành xu hướng quy hoạch đô thị. Nhiều nghiên cứu thảo luận biện pháp quy hoạch không gian mở với sự tham gia của cộng đồng như một thành phần không thể thiếu của quy hoạch [15]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về không gian mở đô thị thường hướng về các tiêu chí kiến trúc, cụm từ “không gian mở đô thị” thường được nhắc đến để chỉ các không gian cảnh quan đẹp trong khu ở, hướng đến giá trị thẩm mĩ, giá trị thư giãn, tiện nghi cho con người. Nổi bật là đề tài nghiên cứu không gian mở đô thị phục vụ quản lý bền vững cảnh quan thành phố Hà Nội của TS.
Nguyễn An Thịnh, nghiên cứu đã phân tích hiện trạng, biến động trong các không gian mở đô thị thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra đề xuất nhằm quản lý bề vững cảnh quan đô thị và bảo tồn không gian mở trong quá trình đô thị hóa và định hướng phát triển bền vững cho đến năm 2020 [6]. Bên cạnh đó, khía cạnh lịch sử và văn hóa cũng có những tác động mạnh mẽ đến quy hoạch không gian mở. Xem xét tại thành phố Hà Nội, trong suốt lịch sử lâu dài, không gian đô thị Hà Nội chịu ảnh hưởng từ nhiều trường phái kiến trúc khác nhau bao gồm Trung Quốc, Pháp, Liên Xô và các ảnh hưởng đương đại khác qua từng thời kỳ. Nghiên cứu năm 2014 đã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Nền văn hoá Đông Phương và Tây Phương khác biệt đã thống trị sự phát triển của Thành phố Hà Nội, ảnh hưởng đến quy hoạch không gian mở như thế nào?”.
Các kết quả của nghiên cứu này đã góp phần nghiên cứu tài liệu về các lĩnh vực quy hoạch sinh kế và không gian mở đô thị phục vụ công tác quy hoạch và quản lý của các nhà quy hoạch và cộng đồng của thành phố Hà Nội về các vấn đề liên quan đến quy hoạch đô thị và cung cấp không gian mở từ quá khứ đến hiện tại. Theo cách này, nghiên cứu này đã góp phần hướng tới một Hà Nội "xanh" hơn [7]. Mặt khác, nghiên cứu về vai trò của quy hoạch cảnh quan và không gian mở trong quy hoạch phát triển đô thị bền vững, lấy bối cảnh hiện trạng và quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh đã nêu bật vai trò của hệ thống không gian mở trong việc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cải thiện điều kiện sinh thái, đáp ứng nhu cầu xã hội về giải trí và nâng cao giá trị kinh tế của đất đô thị [8]. Trong nghiên cứu này, không gian mở được xem như một phương pháp quy hoạch sử dụng đất cho phát triển bền vững.
Tổng quan các tài liệu nghiên cứu lồng ghép giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong quy hoạch đô thị Biến đổi khí hậu là đề tài được bàn luận sôi nổi trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu tác động đến nhiều mặt của tự nhiên, kinh tế, xã hội, do đó các nghiên cứu về biến đổi khí hậu cũng đa dạng. Trong đó, các đề tài nghiên cứu lồng ghép giải pháp biến đổi khí hậu trong quy hoạch đang dần phổ biến trên thế giới, nhất là tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Tác động biến đổi khí hậu và các ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay được quan sát thấy trong các hệ thống tự nhiên và sinh thái. Quy hoạch nên vạch ra một tập hợp các chỉ tiêu đánh giá quy chuẩn để đánh giá những thích ứng với biến đổi khí hậu ở các quy mô khác nhau [19].
Quy hoạch thành phố là giải pháp quan trọng trong vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu khu vực. Cho đến nay, những khó khăn này đã tập trung vào các yếu tố đơn giản như nguồn lực hạn chế và thiếu thông tin. Điều này đã che khuất một bộ phận rộng lớn những hạn chế cần phải được nhìn nhận trong quy hoạch và cần được giải quyết nếu việc thích ứng có khả năng được thúc đẩy thông qua quy hoạch thành phố. Các kết quả cho thấy sự thích nghi khí hậu đã được chấp nhận rộng rãi như là một vấn đề quan trọng đối với việc lập kế hoạch thực hiện của chính phủ [20].
Dựa vào chức năng sinh thái của không gian mở, một số nghiên cứu đã quan tâm đến quy hoạch không gian mở để giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường.