Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Tài liệu nghiên cứu trong nước Võ Thị Kim Liên và Nguyễn Văn Mạnh (2021) với nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Nghiên cứu cho thấy đảo Phú Quý là nơi rất lý tưởng đề tổ chức các hoạt động DLST, vì nơi đây mang vẻ đẹp hoang sơ, nguồn hải sản phong phú, đa dang, con người chân that, thân thiện.
Dé DLST tại Phú Quý phát triển theo đúng nghĩa, cần đảm bảo hài hòa các lợi ích giữa kinh tế, môi trường và xã hội; Vừa phải hòa hợp giữa khai thác tài nguyên du lịch gắn với bảo tồn; Bảo vệ môi trường cảnh quan, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Trên cơ sở các nguồn thông tin đã thu thập được, tác giả đã lập bảng phân tích SWOT về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cho sự phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Phú Quý. Từ đó, tác giả đã đề xuất các chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Phú Quý với 3 mục tiêu phát triển bền vững là: (1) Bảo ton thiên nhiên; (2) Hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng địa phương; (3) Kinh doanh có lợi nhuận và hiệu quả kinh té cao. Lê Thị Anh (2021) với nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Kẹm, tỉnh Thái Nguyên.
Nghiên cứu cho thấy Thái Nguyên là địa phương có nhiều điều kiện dé phát triển các loại hình du lich dựa trên nguồn tiềm năng da dạng và phong phú. Trong đó, khu vực Kẹm thuộc xã La Bằng, huyện Đại Từ hội tụ nhiều tiềm năng dé trở thành một điểm du lịch sinh thái mới của tinh. Với cảnh quan tự nhiên, nền khí hậu mát mẻ và đời sống văn hóa phong phú của cộng đồng các dân tộc sinh sống ở La Bang rất thuận lợi cho phát triển các sản pham du lịch sinh thái, góp phan bảo vệ tài nguyên tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội địa phương thông qua hoạt động du lịch bền vững. Đề đây mạnh phát triển du lịch sinh thái tại khu vực bãi Kem cần tổ chức quy hoạch các điểm du lịch với sự tham gia phối hợp, hợp tác giữa chính quyền địa phương và Ban quản lý VQG Tam Đảo, doanh nghiệp lữ hành, cộng đồng dân cư nhằm phát huy giá trị tự nhiên, giá trị văn hóa, bản sắc cộng đồng địa phương theo hướng bên vững.
Đặc biệt cần dé cao vai trò cộng đồng trong tham gia thực hiện các dự án phát triển du lịch sinh thái; Xây dựng cơ chế tham gia của các bên liên quan, gắn kết lợi ích của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Kẹm. Trần Thanh Thảo Uyên và Nguyễn Mai Trang (2020) đã thực hiện nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Tiên. Nghiên cứu cho thấy Vườn quốc gia Cát Tiên hội tụ được các luồng hệ thực vật phong phú và có tính đa dạng sinh học cao. Hiện nay, nhu cầu tham quan du lịch sinh thái ngày một gia tăng cả về số lượng và chất lượng, và loại hình du lịch này muốn ton tại và phát triển bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế lâu dài rất cần có sự quy hoạch, khai thác, sử dụng và bảo vệ một cách hợp lý bởi tính nhạy cảm của nó trong quá trình khai thác và sử dụng.
Hiện nay, hệ thống giao thông nội bộ của Vườn quốc gia Cát Tiên chủ yếu là đường mòn, nên trong mùa nắng thì bụi, mùa mưa thì lầy lội, làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng phục vụ du khách; Đội ngũ quản lý và nhân viên làm công tác du lịch đa số chưa được đảo tạo chuyên ngành nên chất lượng phục vụ chưa cao; Du khách đi theo đoàn đông thường gây khó khăn cho Ban Quản lý Vườn trong việc quản lý rác thải, tiếng ồn và những tác động xấu đến cảnh quan, môi trường. Một số giải pháp phat triển bền vững du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Tiên: (1) Phát trién nguồn nhân lực phục vụ du lịch; (2) Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật; (3) Tuyên truyền, quảng bá du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên; (4) Bảo vệ môi trường: (5) Xây dung mô hình phát triển bền vững du lịch sinh thái. Nguyễn Thị Thu Hà (2017) đã thực hiện đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghiên cứu cho thấy hoạt động du lich sinh thai tai VQG Tam Dao do Ban Giám đốc Vườn quản lý, chỉ đạo và giám sát trực tiếp, đây là một điều rất thuận lợi trong quá trình triển khai, thực hiện hoạt động phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, Trung tâm GDMT & DV - VQG Tam Đảo còn thiếu cán bộ được đào tạo bai bản, chuyên sâu về du lịch. Việc khai thác hoạt động du lịch sinh thái ở VQG Tam Đảo còn hạn chế, đầu tư xây dựng các tuyến du lịch còn ít, mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của du khách. Kết quả thu hút khách tham quan thấp, kinh phí thu được chủ yếu từ hoạt động bán vé tham quan, nguồn thu từ các dịch vụ khác không có. Đề tài xác định được các tuyến DLST đang được khai thác tại VQG Tam Đảo có sức chứa tự nhiên là 1.799 người/năm; sức chứa thực tế là 487.121 người/năm, cao gấp 29,7 lần lượng khách trong năm 2016.
Điều này cho thấy, tiềm năng phát triển về du lịch sinh thái tại VQG Tam Đảo là rất lớn và VQG vẫn chưa khai thác hết tiềm năng này. Đề tài cũng đã xác định được các tác động của hoạt động du lịch đến VQG Tam Đảo trên 03 khía cạnh (1) Kinh tế: Từ năm 2014 đến 2016 doanh thu từ hoạt động du lịch của VQG Tam Đảo liên lục tăng lên, bình quan đạt 282,7 triệu đồng/năm; (2) Xã hội: Thông qua các hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch đã góp tạo việc làm cho nhiều người dân trong vùng; nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống: (3) Môi trường: Bên cạnh những lợi ích thì việc phát triển du lịch cũng tạo ra những tác động tiêu cực nhất định: tăng lượng rác thải, gây xói mòn, sat lở dat, làm nhiễu loạn sinh thái anh hưởng đến đời sống và cư trú của nhiều loài động vật. Luận án vận dụng các đặc trưng của du lịch sinh thái và vai trò của các VQG dé xác định sứ mệnh va tam nhìn mới đối với các VQG, đó là: Tài nguyên ở các VQG phải được coi là một nguồn tài nguyên kép vừa là tài nguyên rừng - phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học nhưng đồng thời cũng là một tài nguyên du lịch - tài nguyên du lịch sinh thái. Luận án xác định vai trò của Ban quản lý VQG trong việc quản lý và khai thác du lịch sinh thái theo hướng phát triển bền vững đồng thời đề xuất mô hình tô chức quản lý cho các VQG.
Tác giả đã đề xuất mô hình phát triển du lich sinh thái bền vững cho các VQG nhằm tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan trong việc tổ chức quan lý và khai thác tài nguyên du lịch ở VQG. Các bên tham gia trong mô hình phát triển DLST bền vững tại các VQG bao gồm: Ban quản lý VQG, cộng đồng dân cư địa phương, các doanh nghiệp du lịch và khách du lịch. Luận án cũng đề xuất xây dựng phương án khai thác du lịch sinh thái tại các VQG theo hướng phát triển bền vững vừa đảm bảo việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Các chính sách về thị trường, về sản phâm cũng như các chính sách về xúc tiến, quảng bá dé đưa các thông tin về VQG đối với du khách và giúp du khách lựa chọn được những chương trình DLST đích thực tại VQG.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho mỗi lần tham quan dé làm cơ sở xác định giá vé vào cửa cho các VQG. Nguyễn Chí Thành (2011) đã tiến hành đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận. Nghiên cứu chỉ ra DLST ở VQG Núi Chúa chưa thật sự phát triển so với tiềm năng của nó, đang ở trong giai đoạn “khám phá”. Thời điểm vào năm 2010, Trung tâm DLST và GDMT đã xây dựng về CSVC nhưng chưa di vào hoạt động, và Vườn chưa được nguồn thu từ hoạt động du lịch, cũng như chưa thu phí tham quan Vườn.
Qua kết qua điều tra khảo sát và phân tích SWOT về hoạt động DLST của VQG Núi Chúa, đề tài đã đưa ra được những giải pháp: (1) Về hệ thông tổ chức và đội ngũ nhân lực: Xây dựng Trung tâm du lịch sinh thái là nơi quản lý, điều hành, Marketing tất cả các hoạt động du lịch. Đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý và hướng dẫn viên, ưu tiên người địa phương; (2) Về vấn đề cộng đồng địa phương: Tuyên truyền, giáo dục về du lịch sinh thái đối với phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường. Đặc biệt trong công tác truyền thông nên sử dụng tiếng của người dân tộc đề họ hiểu rõ nội dung được truyền đạt, khuyến khích người dân tham gia hoạt động DLST; (3) Về cơ sở hạ tầng: Cần có nhiều hơn nữa những cơ chế khuyến khích, các hình thức dé thu hút nguồn vốn đầu tu cho phát triển DLST, cơ sở hạ tầng phải được xây dựng đúng nguyên tắc; (4) Về công tác quảng cáo và tiếp thị: Tăng cường đầu tư và hợp tác trong lĩnh vực tuyên truyền quảng cáo tiếp thị; (5) Về công tác bảo vệ và an ninh cho khách du lịch: Xây dựng nội quy, tổ chức lực lượng cứu hộ, nâng cấp phương tiện phụ trợ. Tài liệu nghiên cứu nước ngoài Mukhles và cộng sự (2021) trong nghiên cứu vai trò của chính phủ trong phat triển du lịch sinh thái ở Malaysia, nghiên cứu điểm được thực hiện ở khu vực kinh tế duyên hải đã khang định sự can thiệp của Chính phủ là rất cần thiết đối với các quốc gia đang phát triển trong việc lập kế hoạch và xúc tiễn hoạt động du lịch sinh thái.