Chương I, Điều 3, mục 7 của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Điểm dự lịch là nơi có tài nguyên dụ lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách dụ lịch ” Trích luận án TS. Nguyễn Thị Lệ Hương (2019) để phân biệt rõ hơn điểm đến du lịch và điểm du lịch: Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa điểm đến du lịch và điểm du lịch "Tiêu chí Điểm đến du lịch Điễm du lịch Tà khái niệm rộng về không | Là khái niệm hẹp về không gian, có thể là một khu vực, | gian Khái niệm một đất nước hoặc một địa phương. Là điểm định hướng, cho khách đến du lịch. Đổi tượng và như | Du khách phải nghĩ ít nhất một | Chủ yêu phục vụ cho khách câu của du khách | đêm.
'Có các loại hình địch vụ phục | Có các dịch vụ du lịch nhưng Điều kiện dịch vụ a vụ du khách như: Đi lại, ăn | không được đầy đủ du lich & tống, vui chơi, nghỉ ngơi. 'Gỗm nhiều điêm du lịch ở cấp | Điểm du lịch thuộc địa Pham vi quốc gia hoặc cấp địa phương. | phương, vùng hay một điểm đến cụ thể.5 Hình ảnh điểm đến Một trong những người đầu tiên nghiên cứu vẻ hình ảnh điểm đến, Hunt (1975) cho rằng hình ảnh điểm đến là những ấn tượng mà một người hoặc nhiều người lưu giữ về một địa điểm không phải là nơi cư trú của họ. Một số khái niệm về hình ảnh điểm đến ~ _ Theo UNWTO (Tổ chức du lịch thể giới, 2007): “Hình ảnh điểm đến là tập hợp tắt cả nhận thức của du khách vẻ một điểm đến ”.
= Chon (1990) định nghĩ “Hình ảnh điểm đến là kết quả của sự tương tác giữa. niềm tin, ý tưởng, cảm nhận, mong đợi và ân tượng của một người vẻ một điễm đến ”. = Cai (2002) lai cho rằng: “Hình ảnh điểm đến là sự nhận thức về một nơi được phản ảnh bởi các mỗi liên hệ hình thành trong trí nhớ của du khách " 3.6 Trải nghiệm du lịch “Theo Kim và cộng sự (2012) ngày nay khách hàng thích trái nghiệm sản phẩm hơn là tiêu thụ sản phẩm vật chất. Oh và cộng sự (2007, tr.120): “Trải nghiệm dụ lịch là tắt cả mọi thứ du khách trải qua tại một điềm đến, là hành vi hoặc cảm nhận, nhận thức hoặc cảm xúc, có thẻ biểu hiện ra bên ngoài hoặc ẩn chứa bên trong”.7 Loại hình du lịch nông thôn Hiện nay, có rất nhiều loại hình du lịch ở Việt Nam và được phân chia như sau: = Can cit vio mục đích chuyến đi, theo tiễn sĩ Hassel có 10 loại hình du lịch phổ.
biển theo cách phân chia này: Du lịch thiên nhiên, Du lịch văn hóa, Du lịch xã hôi, Du lịch hoạt động, Da lịch giải trí, Du lich thé thao, Du lịch chuyên đề, Du lịch tôn giáo, Du lịch sức khỏe, Du lịch dân tộc học. ~_ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Du lịch quốc tế, du lịch trong nước, du lịch nội địa, du lịch quốc gia. 24 ~_ Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với điềm đến du lịch: Du lịch thám hiểm, Du lịch thượng lưu, Du lịch khác thường, Du lịch đại chúng tỉ khởi, Du lịch đại chúng, Du lịch thuê bao. ~_ Các cách phân loại khác: Có thê căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm đến du lịch như: Du lịch thành phố, du lịch nông thôn.
Hoặc căn cứ vào phương tiện giao thông như: Du lịch xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, hàng không. Hoặc căn cứ vào phương tiện lưu trú nhu: G hotel, motel, cắm trai qua dém, homestay. vào thời gian du lịch như: Du lịch đài ngày hay ngắn ngày. Hoặc căn cứ vào lứa tuổi như: Du lịch trẻ em, thiếu niên, trung niên.
Hoặc căn cứ theo hình thức tổ chức du lịch đi theo đoàn hay theo cá nhân, gia đình. Bùi Xuân Nhàn (Phó Hiệu trưởng trường đại học Thương mại Hà Nội) viết trên website của Tổng cục du lịch như sau: Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành của ngành đường sắt ở châu Âu. Nhưng cho đến tận những năm đầu tiên thập niên 80 của thé ky XX, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và phô biến ở hẳu hết các quốc gia ở châu Âu. 'Ở Pháp, loại hình du lịch bãi biển và du lịch nông thôn đã được Bộ Du lịch phát triển và thu hút được rất nhiều du khách tham gia.
Nam 1990, tại Trung Quốc, chương trình du lịch nông thôn đã được chính phủ ban bố với mục đích chống nạn đói tại một số tỉnh của nước này như Vân Nam, Quảng. Tiếp theo, Trung Quốc tiếp tục phát triển nhiều khu vực du lịch nông thôn lớn khác và hằng năm đón hơn 300 triệu lượt khách tham gia loại hình này, dat doanh thu 40 ti NDT (tương đương 5,13 tỉ USD). “Tiếp theo, vào năm 1995 tại Nhật Bản thì Bộ Nông Lâm và Thủy sản đã thiết lập. một chương trình với nhà nghỉ nông thôn trên cả đắt nước của mình.
Các nhà nghỉ ở nông thôn này chủ yếu do các hộ dân ở đây hình thành nên. Du khách đến đây sẽ được trải nghiệm tất cả các hoạt động ăn nghỉ tại các nhà nghỉ nông thôn của người dân hoặc tham gia các hoạt động diễn ra hằng ngày ở đây như trồng rau, thu hoạch hoa quả, cá. Tại Hàn Quốc (1984) thì du lịch nông thôn bắt đầu cũng từ một dự án của chính phủ tổ chức nhằm tăng thêm thu nhập cho người nông dân. Đắt nước Hàn Quốc lúc này có rất nhiều làng quê nghẻo và nhờ chương trình này mà thu nhập của người nông.
dân được tăng lên đáng kể. “Tại Thái Lan, với mô hình trang trại và khu làng nông thôn chính phủ nước này đã có những chính sách khuyến khích người dân đầu tư phát triển du lịch nông thôn để phục vụ du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt, loại hình du lịch này phát triển khá nhanh và mạnh vào năm 1997 tại đất nước này. Riêng nước ta cho đến hiện nay, khái niệm về loại hình du lịch nông thôn vẫn.
chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta là nước có tiểm năng. lớn để phát triển loại hình du lịch này. Với phong cảnh thiên nhiên được ưu ai, địa hình đa dạng có cả núi đôi, sông suối, biển đảo, hang động., vùng nông thôn Bắc Bộ với những ngôi làng cổ kính, có nét văn hóa truyền thống đa dạng và đặc sắc, những vùng đất mang tính lịch sử lâu đời, là nơi còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử và truyền thống văn hóa tập tục, vùng Nam Bộ thì có những cánh đồng bát ngát, đất đai màu mỡ phì nhiêu. đó là những lợi thể để nước ta phát triển loại hình du lịch nông thôn.
Du lich nông thôn là một loại hình du lịch xuất hiện và phát triển từ lâu trên thể giới nhưng lại mới bắt đầu hình thành và phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây. Loại hình du lịch này không đơn giản là du khách sẽ tân hưởng những giây phút nghỉ ngơi, thư giãn khi tham gia du lịch mà du khách còn có cơ hội tìm hiểu và. trải nghiệm văn hoá sinh hoạt của người dân địa phương, hiểu được quy trình sản xuất dé cho ra đời một sản phẩm thủ công. Hình thức này vừa góp phần tạo luồng.
gió mới cho hoạt động du lịch, vừa giúp nông dân nâng cao thu nhập, vừa tạo sự hấp dẫn và mới lạ cho du khách. Khi tham gia loại hình du lịch này, du khách sẽ được đóng vai là người “chủ” nên trực tiếp tham gia vào những công việc rất giản dị như. lội ruộng, bắt cá, trồng rau, chẻ củi, đan cót. được trải nghiệm để trở thành nông.
dân, thợ thủ công thực thụ. 26 Du lịch nông thôn có các đặc điểm căn bản sau: = Nền tảng cốt lõi của du lịch nông thôn là nông nghiệp. ~_ Mô hình du lịch nông thôn có thé thay đổi được theo thời gian và không gian cho phù hợp với tình hình thực tế. ~_ Loại hình du lịch nông thôn không cạnh tranh như các loại hình du lịch khác.
~_ Dễ xuất hiện những hình thức biến tấu của loại hình này. ~ _ Có tính liên kết giữa các ngành và các vùng rất cao. “Từ những đặc điểm căn bản được nêu ở trên, phát triển loại hình du lịch nông thôn phải bảo đảm được các nguyên tắc sau: ~ _ Tỉnh công bằng cho các chủ thể khi tham gia loại hình này. ~_ Phải mang lại lợi ich cho người dân và phát huy được nội lực của từng địa phương phát triển loại hình này.
~_ Bảo tổn, phát huy các di sản của quốc gia và bảo vệ môi trường khi tham gia. ~ _ Luôn luôn đổi mới và tạo sự khác biệt cho du khách. ~ _ Tăng cường các môi liên kết theo2 chiều (dọc và ngang) để làm đa dạng thêm. ~ _ Giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo dựng hình ảnh tốt trong lòng du khách.
Một số khái niệm về ý định quay trởlại của du khách 2.1 Sự hài lòng của khách hàng. Theo Oliver (1993): “Sic hai long của khách hàng là trang thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một công ty (tổ chức) khi những kỳ vọng của họ được thoả mãn hoặc là thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ Theo Philip Kotler (2003): “Sự ñải lỏng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguân từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó”. “Có ba mức độ hài lòng của khách hàng. 27 ~_ Nếu kết quả thực tế thấp hơn sự kỳ vọng của họ thì khách hàng không hải lòng.
~_ Nếu kết quả thực tế tương xứng với sự kỳ vọng của họ thì khách hàng sẽ hài lòng. ~ _ Nếu kết quả thực tế cao hơn sự kỳ vọng của họ thì khách hàng rất hài lòng. "Như vậy, sự hải lòng của khách hàng là sự thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ hay sản phẩm nào đó.2 Sự hài lòng của du khách Theo Cadotte, Woodruff và Jenkins (1982): Sự hài lòng của du khách là sự so. sánh của những ky vọng với những trải nghiệm.
Sự hải lòng của khách du lịch đồng.