Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước (mã số: 62 31 02 03), được thực hiện tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng vào năm 2014. Công trình nghiên cứu sự lãnh đạo, quản lý và định hướng chính trị tư tưởng đối với loại hình báo điện tử trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng Internet tại Việt Nam. Theo thống kê được tác giả trích dẫn từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 7/2013, cả nước có 76 báo và tạp chí điện tử đang hoạt động. Số người tiếp cận thông tin qua máy tính và các thiết bị cầm tay kết nối mạng chiếm gần một phần ba dân số cả nước, trong đó phần lớn là thanh thiếu niên và tầng lớp trẻ tuổi. Báo điện tử sở hữu những ưu thế vượt trội như tính đa phương tiện, khả năng tương tác cao, tốc độ phát tán thông tin tức thời và không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động báo điện tử bộc lộ nhiều hạn chế do tính chất non trẻ; cơ chế chính sách quản lý chưa hoàn thiện; cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều đơn vị còn lạc hậu; đội ngũ biên tập viên, phóng viên còn trẻ, trình độ chuyên môn và nhận thức chính trị chưa đồng đều. Sức ép cạnh tranh thông tin dẫn đến sơ suất về nội dung, thiếu chính xác, thiếu khách quan. Một bộ phận cơ quan báo chí bị chi phối bởi khuynh hướng "thương mại hóa", chạy theo lợi nhuận đơn thuần, đăng tải tin tức giật gân, khai thác đời tư cá nhân, buông lỏng chức năng định hướng dư luận xã hội và xa rời tôn chỉ mục đích. Đồng thời, trên bình diện quốc tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", triệt để lợi dụng tiện ích của Internet và mạng xã hội để chống phá nền tảng tư tưởng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều cơ quan truyền thông phản động ở nước ngoài đã dừng báo in để chuyển hướng đầu tư sang báo điện tử, lợi dụng các thông tin thiếu định hướng trên báo chí trong nước nhằm kích động và phân hóa dư luận.

Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần bảo đảm cho hoạt động báo điện tử vận hành theo đúng tôn chỉ mục đích, giữ vững vai trò là cơ quan ngôn luận của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, là diễn đàn của nhân dân và là công cụ trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của báo điện tử và định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam; xác định các yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm tăng cường định hướng chính trị tư tưởng cho loại hình báo chí này.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu tổng thể về định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó nắm chắc, dự báo sự phát triển báo điện tử ở Việt Nam; luận giải một cách cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận về báo điện tử Việt Nam.
  2. Khảo sát thực tiễn, đánh giá toàn diện, đầy đủ, cụ thể thực trạng và đúc rút kinh nghiệm định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  3. Phân tích những yếu tố tác động hiện nay đến báo điện tử, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, đề xuất hệ thống nội dung, giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi để định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào vấn đề chính trị tư tưởng và hoạt động định hướng chính trị tư tưởng của các báo điện tử có lưu lượng truy cập lớn ở Việt Nam (trên 1 triệu lượt người truy cập trong một ngày), khảo sát điển hình tại Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ, Báo Vietnamnet, Báo điện tử Dân trí.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập số liệu và tổng kết thực tiễn giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích dung lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:

Nhóm tài liệu quốc tế về báo chí và quản lý báo chí:

  • Tại Mỹ: Ellen Hume trích dẫn quan điểm năm 1787 của Tổng thống Thomas Jefferson về vai trò giám sát của báo chí; Báo cáo Xu thế năm 2005 phản ánh gần 1/2 người tham gia khảo sát ít hoặc không tin tưởng vào báo chí hàng ngày do chịu sự chi phối chính trị; M. Wall (2005) nghiên cứu báo điện tử và blog trong chiến tranh Iraq năm 2003; Robinson (2007) phân tích việc kiểm duyệt và sàng lọc bình luận của độc giả trên báo mạng; Johnson (2012) khảo sát sự phát triển của tự do báo chí qua các phán quyết của tòa án Mỹ; vụ việc phóng viên Peter Arnett bị hãng truyền hình NBC chấm dứt hợp đồng năm 2003 khi trả lời phỏng vấn đài Al-Jazeera; công trình nghiên cứu của Đại học California - Berkeley về tính định hướng trong điều tra báo chí.
  • Tại các nước châu Âu: Boczkowski (1999) nghiên cứu về quảng cáo trực tuyến và quá trình Internet hóa nghề báo; H. Sousa (2006) phân tích tác động của công nghệ truyền thông trực tuyến tại Bồ Đào Nha; Rebillard (2004) khảo sát vi phạm bản quyền và tính trung thực thông tin; M. Dimoudi và M. Deuze (2002) khảo sát các nhà báo mạng Hà Lan về thứ bậc ưu tiên công việc (đưa tin nhanh, phân tích vấn đề phức tạp, định hướng dư luận); D. Attias (2007) khảo sát 382 báo điện tử và trang web tiếng Pháp khẳng định thông tin chính thống tạo lập uy tín kinh tế báo chí; tài liệu tập huấn nâng cao báo chí của Đại học Báo chí Lille (Lin - Pháp) và Cơ quan SIDA (Thụy Điển).
  • Tại Liên bang Nga: Hoạt động của các báo điện tử chính đảng như Izvestia.ru (Đảng Nước Nga thống nhất), Pravda.ru (Đảng Cộng sản Liên bang Nga), Rian.ru, APN, Interfax; sự can thiệp của Cơ quan Roskomnadzor (Tổng thanh tra Nga) do Vladimir Pikov phát ngôn yêu cầu mạng xã hội Facebook gỡ bỏ thông tin cấm ngày 28-29/3/2013; chương trình Giao lưu trực tuyến của Tổng thống Vladimir Putin ngày 25/4/2013 tiếp nhận hơn 3 triệu câu hỏi; đạo luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng từ ngữ thô tục trên truyền thông và báo mạng do Sergei Zheleznyak khởi xướng năm 2012; Luật "Danh sách các trang web đen" có hiệu lực từ ngày 1/11/2012; số lượng thông tin bị Nga yêu cầu Google gỡ bỏ tăng 19 lần trong nửa cuối năm 2012.
  • Tại Trung Quốc: Thống kê của CNNIC ghi nhận sự phát triển báo chí từ 336 loại (năm 1950) lên 1943 loại (năm 2008), độc giả báo mạng năm 2008 đạt 338 triệu người, 158 triệu địa chỉ IP (đứng thứ hai thế giới); Điều lệ quản lý xuất bản do Quốc Vụ viện ban hành sửa đổi tháng 3/2011; Quy hoạch phát triển báo chí, xuất bản 5 năm 2011 - 2015 lần thứ 12 do Cục Báo chí - Xuất bản công bố ngày 20/4/2011 xác định 7 nhiệm vụ và 8 giải pháp; chế độ "cơ quan chủ quản đồng thời là cơ quan xuất bản"; việc xử lý kỷ luật đối với 13 báo điện tử đăng tải thông tin về chế độ hộ khẩu.
  • Tại Lào và Myanmar: Báo cáo khảo sát của Báo Quân đội nhân dân (tháng 7/2012) và Cục Báo chí Việt Nam (tháng 10/2012) tại Lào ghi nhận 101 cơ quan báo chí, 8 báo in hằng ngày, 43 đài phát thanh, 34 đài truyền hình, hơn 30 báo và tạp chí điện tử do Cục Thông tin Đại chúng quản lý qua cơ chế giao ban tuần và thẩm định maket; Myanmar thành lập ban chuyển đổi 3 nhật báo nhà nước (Myanmar Alin, Kyemon, Ánh sáng mới Myanmar) sang truyền thông công cộng và thành lập Hội đồng Báo chí lâm thời (MPC) gồm 29 thành viên ngày 20/10/2012.

Nhóm công trình và tài liệu nghiên cứu trong nước:

  • Văn kiện chỉ đạo: Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22/7/2005 của Ban Bí thư về "Phát triển và quản lý báo điện tử ở Việt Nam hiện nay"; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 31/7/2008 của Ban Bí thư về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí"; Hội thảo Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 12/6/2010 về quản lý báo điện tử, trang tin điện tử và game online; Hội thảo quốc gia ngày 19/6/2010 kỷ niệm 85 năm Báo chí cách mạng Việt Nam.
  • Sách và đề tài khoa học: "Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)" do Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông chủ biên (2010); "Cơ sở lý luận báo chí" của Tạ Ngọc Tấn (1999); "Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới" của Nguyễn Vũ Tiến (2005); "Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" của Trần Quang Nhiếp (2002); Đề tài cấp bộ của Vũ Duy Thông về nâng cao trình độ cán bộ báo chí; Đề tài của Hà Thị Vinh về lãnh đạo, quản lý báo mạng; Tài liệu của Hội Nhà báo Việt Nam (1998) về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo; Sách chuyên khảo của Ban Tuyên giáo Trung ương (2007).
  • Luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án của Đỗ Chí Nghĩa về vai trò định hướng dư luận xã hội của báo chí; Luận án của Nguyễn Vũ Tiến (2003) về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí thời kỳ đổi mới; Luận án của Trần Doãn Tiến (2010) về phê phán quan điểm sai trái trên Internet bảo vệ chủ nghĩa xã hội; Luận văn của Chử Kim Hoa (2001) và Hoàng Thị Bích Yến (2001) về quản lý nhà nước đối với báo chí; Luận văn của Phạm Đức Thái (2010) về Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam với thông tin đối ngoại; Luận văn của Vũ Đình Thường (2004) về báo chí trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Bài báo khoa học trên tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Đào Duy Quát (2011), Hà Đăng (2011), Hữu Thọ (2011), Phùng Hữu Phú (2009), Lê Doãn Hợp (2007), Nguyễn Thế Kỷ (2012), Đỗ Quý Doãn (2012), Hoàng Anh (2012), Nguyễn Văn Minh (2012).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận báo chí truyền thống, công tác quản lý nhà nước chung về hoạt động báo chí hoặc kỹ thuật làm báo mạng đơn thuần. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và chuyên sâu về định hướng chính trị tư tưởng đối với báo điện tử ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm làm sáng tỏ các nguyên tắc, nội dung, yêu cầu và hệ thống giải pháp định hướng chính trị tư tưởng cho báo điện tử trong thời kỳ truyền thông số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên:

  • Các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về báo chí cách mạng: Luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về tính đảng, tính giai cấp và nhiệm vụ bảo vệ cương lĩnh của Đảng; luận điểm của V.I. Lênin về tờ báo chính trị toàn Nga (báo Tia lửa - Iskra), khẳng định báo chí là "người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể và người tổ chức tập thể", đóng vai trò như "những giàn giáo" dựng quanh tòa nhà đang xây dựng, là trung tâm lãnh đạo tư tưởng của Đảng.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng: Báo chí phục vụ nhân dân lao động, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc; người làm báo là chiến sĩ cách mạng, "cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng".
  • Quan điểm, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng, văn hóa và báo chí xuất bản; hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam gồm Luật Báo chí năm 1999, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành:

  • Phương pháp lôgíc - lịch sử: Tái hiện sự hình thành, phát triển của báo chí cách mạng và các giai đoạn phát triển của báo điện tử tại Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích cơ sở lý thuyết, các văn kiện chỉ đạo, đánh giá thực trạng ưu điểm, khuyết điểm trong công tác định hướng tư tưởng.
  • Phương pháp điều tra - khảo sát xã hội học: Tác giả xây dựng bảng hỏi điều tra thực tế với cỡ mẫu N = 700 phiếu khảo sát công chúng (thể hiện tại Phụ lục số 02) nhằm thu thập dữ liệu về thói quen tiếp cận, nội dung quan tâm và đánh giá của độc giả đối với thông tin báo điện tử.
  • Phương pháp tổng kết - so sánh và phương pháp chuyên gia: So sánh kinh nghiệm quản lý truyền thông của các quốc gia; tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý báo chí và tổng biên tập các cơ quan báo điện tử.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Tư liệu nghiên cứu gồm các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Ban Bí thư; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; báo cáo tổng kết định kỳ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông; báo cáo của Cục Báo chí. Dữ liệu thực nghiệm trích xuất từ kết quả điều tra xã hội học của tác giả được tổng hợp trong bảng số liệu sau:

Chỉ số khảo sát độc giả (N = 700) Số lượng phản hồi đồng ý Tỷ lệ phần trăm (%) Nội dung ghi nhận
Mức độ tiếp cận báo điện tử (Mục C7) 680 97,1% Khẳng định báo điện tử dễ tiếp cận đối với công chúng
Mức độ quan tâm sự kiện xã hội trong nước (Mục C6) 564 80,6% Bạn đọc quan tâm nhiều nhất đến tin tức thời sự xã hội trong nước
Mức độ quan tâm sự kiện chính trị, xã hội thế giới (Mục C6) 424 60,6% Bạn đọc quan tâm đến thông tin thời sự, chính trị quốc tế

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam

Tiểu mục 1.1: Báo chí cách mạng và Báo điện tử ở Việt Nam Tác giả hệ thống hóa sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ mốc lịch sử năm 1925 khi Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Thanh niên (cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên), kế tiếp là các tờ báo cách mạng tiền thân như Búa liềm, Lao động (tháng 6/1929), Đỏ (tháng 9/1929). Qua hơn 88 năm lịch sử, báo chí cách mạng Việt Nam đã phát triển với hơn 800 cơ quan báo chí, gần 1100 ấn phẩm báo chí và 76 báo, tạp chí điện tử.

Lược sử báo điện tử thế giới bắt đầu từ tháng 10/1993 khi Khoa Báo chí Đại học Florida (Mỹ) công bố phiên bản báo điện tử đầu tiên, tiếp đó năm 1994 tạp chí trực tuyến Hotwired xuất hiện. Tại Việt Nam, sau khi hòa mạng Internet toàn cầu, tháng 2/1998 Bộ Văn hóa Thông tin cấp phép cho Tạp chí điện tử Quê hương (cơ quan của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài), đánh dấu tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam. Năm 1999, Báo Nhân Dân và Báo Lao Động cho ra đời phiên bản điện tử. Năm 2001, Website Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập dưới dạng web tĩnh để số hóa văn kiện Đảng. Giai đoạn 2003 - 2004 chứng kiến sự bùng nổ các trang báo mạng như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học về báo điện tử: "Báo điện tử ở Việt Nam là một loại hình báo chí và là một loại trang thông tin điện tử được cấp giấy phép hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước, ra đời nhờ sự kết hợp của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; có tổ chức toà soạn báo và trực tiếp sản xuất tin, bài và hoạt động theo Luật báo chí Việt Nam."

Luận án phân biệt rõ ràng giữa báo điện tử và trang thông tin điện tử tổng hợp, trang nội bộ, blog theo Nghị định 97/2008/NĐ-CP và Nghị định 72/2013/NĐ-CP: Báo điện tử bắt buộc phải có giấy phép hoạt động báo chí, có bộ máy tòa soạn, cơ sở hạ tầng riêng và được quyền tự sản xuất tin bài. Ngược lại, trang thông tin điện tử tổng hợp không được tự sản xuất tin bài mà chỉ được trích dẫn nguyên văn nguồn tin chính thức từ cơ quan báo chí hoặc cơ quan Đảng, Nhà nước. Việt Nam không thừa nhận báo chí tư nhân hay các hình thức báo chí công dân tự phát.

Tác giả phân loại báo điện tử Việt Nam thành hai nhóm:

  • Nhóm 1: Các báo điện tử độc lập được cấp phép hoạt động (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo điện tử Quân đội nhân dân, Vietnamnet.vn, VTC News, Dân trí...).
  • Nhóm 2: Các báo, tạp chí điện tử trực thuộc cơ quan báo in, phát thanh, truyền hình (Nhân Dân điện tử, Tuổi Trẻ điện tử...).

Hệ thống hóa 3 giai đoạn phát triển của báo điện tử Việt Nam: Giai đoạn 1997 - 2001 (khởi đầu, nội dung sao chép từ báo in); Giai đoạn 2001 - 2005 (khẳng định vị thế, thương hiệu); Giai đoạn từ 2005 đến 2013 (phát triển bùng nổ, xuất hiện hơn 20 báo độc lập, 300 trang tin trực thuộc cơ quan báo, 1600 trang tổng hợp, 63 tỉnh/thành và 22 bộ/ngành có trang/cổng thông tin điện tử, gần 400 mạng xã hội).

Về chức năng, báo điện tử thực hiện 4 chức năng cơ bản: Giáo dục tư tưởng, cổ vũ động viên; Khai sáng văn hóa và định hướng dư luận xã hội; Phản ánh hiện thực khách quan (tác giả dẫn chứng đợt lấy ý kiến nhân dân sửa đổi Hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013, báo điện tử đã đăng tải toàn văn dự thảo, giúp cơ quan chức năng tiếp nhận khoảng 18 triệu lượt ý kiến đóng góp tính đến 17/5/2013); Thỏa mãn nhu cầu thông tin và giải trí. Về quy trình sản xuất tin bài: Ban biên tập chỉ đạo theo phút, giờ; phóng viên viết bài, chuyển lãnh đạo ban/phòng duyệt, đẩy sang biên tập nội dung, hiệu chỉnh kỹ thuật, trực ban biên tập duyệt và xuất bản trên mạng, toàn bộ dữ liệu lưu giữ bằng phần mềm để kiểm soát.

Tiểu mục 1.2: Quan niệm, tiêu chí và những vấn đề có tính nguyên tắc định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam Luận giải bản chất của định hướng chính trị tư tưởng: Báo chí luôn gắn liền với giai cấp và thể chế chính trị, không có nền báo chí phi chính trị. Luận án phân tích tiêu chí định hướng chính trị tư tưởng gồm: tính Đảng, tính giai cấp, tính chân thật khách quan, tính quần chúng; sự trung thành với đường lối của Đảng và lợi ích quốc gia dân tộc; bảo đảm chất lượng thông tin, không xa rời tôn chỉ mục đích. Xác định các vấn đề có tính nguyên tắc: Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam; sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước bằng pháp luật; coi trọng việc kết hợp bồi dưỡng bản lĩnh chính trị với nâng cao trình độ kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Chương 2: Thực trạng, kinh nghiệm định hướng chính trị tư tưởng của báo điện tử ở Việt Nam hiện nay

Tiểu mục 2.1: Thực trạng định hướng chính trị tư tưởng của báo điện tử ở Việt Nam hiện nay Đánh giá mặt ưu điểm: Báo điện tử đã tuyên truyền nhanh chóng, sinh động các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đóng vai trò là diễn đàn rộng rãi của nhân dân; phản ánh thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội. Báo điện tử tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình", củng cố niềm tin của nhân dân.

Đánh giá mặt hạn chế: Hiện tượng "thương mại hóa" chi phối một bộ phận báo điện tử nhằm thu hút lượt xem để tăng doanh thu quảng cáo; thông tin thiên về các hiện tượng tiêu cực, giật gân, thị hiếu tầm thường; xâm phạm đời tư cá nhân; đưa tin thiếu kiểm chứng, sơ suất về nội dung chính trị dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, bôi xấu chế độ; một số báo, trang tin điện tử xa rời tôn chỉ mục đích và đối tượng phục vụ.

Tiểu mục 2.2: Nguyên nhân và một số kinh nghiệm định hướng chính trị tư tưởng của báo điện tử ở Việt Nam Nguyên nhân của hạn chế: Báo điện tử là loại hình mới mẻ, quy định pháp luật ra đời chậm so với thực tiễn; cơ chế quản lý chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ, phóng viên đa số còn trẻ, nhận thức chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp chưa vững vàng; sự buông lỏng quản lý của một số ban biên tập; áp lực cạnh tranh tốc độ thông tin; hoạt động chống phá tinh vi trên không gian mạng của các thế lực thù địch.

Kinh nghiệm đúc rút:

  • Luôn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với cơ quan báo chí.
  • Nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân và đạo đức làm báo cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên.
  • Thực hiện nghiêm ngặt quy trình biên tập, thẩm định nội dung trước khi xuất bản tin bài.
  • Chủ động nắm bắt dư luận, kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng xã hội trước các vấn đề nhạy cảm, phức tạp.
  • Kết hợp quản lý hành chính, pháp lý với các giải pháp công nghệ kỹ thuật trên môi trường Internet.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp tăng cường định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay

Tiểu mục 3.1: Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay Các yếu tố tác động: Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội tạo ra luồng thông tin đa chiều, phức tạp; âm mưu lợi dụng Internet của các thế lực phản động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường dẫn đến lối sống thực dụng.

Yêu cầu đặt ra:

  • Bảo đảm tính Đảng, tính giai cấp và bản chất cách mạng của báo điện tử.
  • Phát triển số lượng báo điện tử phải đi đôi với nâng cao chất lượng chính trị và nội dung thông tin.
  • Nâng cao tính chủ động, tính chiến đấu trong phòng chống thông tin xấu độc và âm mưu "diễn biến hòa bình".
  • Nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan quản lý và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng.

Tiểu mục 3.2: Những giải pháp cơ bản tăng cường định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay Luận án đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản:

  • Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về báo chí và Internet; nâng cao chất lượng công tác giao ban báo chí; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm tôn chỉ mục đích.
  • Xây dựng tổ chức Đảng và củng cố đội ngũ người làm báo: Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 25-CT/TW về xây dựng Đảng trong cơ quan báo chí; bồi dưỡng bản lĩnh chính trị tư tưởng, trình độ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên, phóng viên; chuẩn hóa tiêu chuẩn chính trị đối với chức danh tổng biên tập, phó tổng biên tập.
  • Đổi mới nội dung, phương thức thông tin và quy trình biên tập: Tăng cường các tuyến bài chính luận, chuyên đề đấu tranh tư tưởng; khai thác công nghệ đa phương tiện để tạo sức hấp dẫn; duy trì quy trình kiểm duyệt tin bài chặt chẽ qua phần mềm quản lý; phát huy vai trò thông tin đối ngoại.
  • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng công nghệ: Đầu tư hạ tầng máy chủ, đường truyền, trang thiết bị đồng bộ; xây dựng các công cụ kỹ thuật để theo dõi, giám sát thông tin mạng, ngăn chặn các nguy cơ tấn công mạng và tin tặc.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận giải và làm sáng tỏ khái niệm báo điện tử, chính trị tư tưởng, định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử tại Việt Nam trong kỷ nguyên truyền thông số.
  • Phân định rõ tiêu chí phân biệt giữa báo điện tử độc lập và trang thông tin điện tử tổng hợp, khẳng định nguyên tắc hoạt động báo chí không có tư nhân hóa tại Việt Nam.
  • Góp phần bổ sung, phát triển luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bác bỏ các luận điệu về "báo chí phi chính trị", "tự do báo chí tư sản".

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, cụ thể về thực trạng hoạt động và định hướng chính trị tư tưởng của hệ thống báo điện tử Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013 qua số liệu khảo sát xã hội học N = 700 phiếu và số liệu cơ quan quản lý.
  • Đúc rút các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý báo điện tử trong nước, đồng thời phân tích, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quản lý truyền thông mạng từ các quốc gia trên thế giới (Mỹ, Liên bang Nga, Trung Quốc, Pháp, Hà Lan, Lào...).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, xây dựng tổ chức Đảng, đào tạo nhân lực làm báo đến đổi mới quy trình kỹ thuật xuất bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thực tiễn chủ yếu ở nhóm các báo điện tử lớn có lưu lượng truy cập trên 1 triệu lượt/ngày (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ, Vietnamnet, Dân trí) và các cơ quan báo chí Trung ương trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013; chưa khảo sát đầy đủ hệ thống các trang tin điện tử của các địa phương, trang tin chuyên ngành hẹp và sự bùng nổ của các ứng dụng mạng xã hội di động mới phát sinh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế định hướng chính trị tư tưởng trên các nền tảng mạng xã hội, truyền thông di động và ứng dụng OTT.
  • Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật số chuyên sâu và cơ chế tương tác hai chiều trong việc nắm bắt, xử lý dư luận xã hội trên không gian mạng Internet.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý: Luận án là tài liệu tham khảo khoa học phục vụ Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Báo chí trong việc xây dựng cơ chế quản lý, sửa đổi bổ sung Luật Báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thông tin điện tử.
  • Đối với các cơ quan báo chí: Công trình cung cấp cơ sở lý luận và nghiệp vụ cho cấp ủy, ban biên tập, tổng biên tập các báo điện tử trong việc xây dựng quy trình xuất bản, quản lý đội ngũ phóng viên, giữ vững tôn chỉ mục đích và xử lý các vấn đề chính trị nhạy cảm.
  • Đối với công tác nghiên cứu, đào tạo: Luận án có giá trị làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Báo chí học, Truyền thông đại chúng tại Học viện Chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các trường chính trị tỉnh, thành phố.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tác giả định nghĩa báo điện tử ở Việt Nam như thế nào? Trả lời: Căn cứ văn bản luận án (trang 40), tác giả định nghĩa: "Báo điện tử ở Việt Nam là một loại hình báo chí và là một loại trang thông tin điện tử được cấp giấy phép hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước, ra đời nhờ sự kết hợp của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; có tổ chức toà soạn báo và trực tiếp sản xuất tin, bài và hoạt động theo Luật báo chí Việt Nam."

Câu hỏi 2: Căn cứ pháp lý nào được tác giả sử dụng để phân biệt báo điện tử và trang thông tin điện tử tổng hợp? Trả lời: Tác giả căn cứ vào Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Điểm khác biệt mấu chốt là báo điện tử bắt buộc phải có giấy phép hoạt động báo chí, có bộ máy tòa soạn và được trực tiếp sản xuất tin bài. Trong khi đó, trang thông tin điện tử tổng hợp chỉ được dẫn lại nguyên văn nguồn tin chính thức từ cơ quan báo chí, cơ quan Đảng, Nhà nước và tuyệt đối không được tự sản xuất tin bài.

Câu hỏi 3: Dữ liệu điều tra xã hội học của tác giả ghi nhận những tỷ lệ nào về mức độ quan tâm của độc giả? Trả lời: Kết quả điều tra xã hội học trên cỡ mẫu N = 700 người (Phụ lục số 02) ghi nhận: 680 người (tỷ lệ 97,1%) khẳng định báo điện tử không khó tiếp cận; 564 người (tỷ lệ 80,6%) quan tâm đến các sự kiện xã hội trong nước; 424 người (tỷ lệ 60,6%) quan tâm đến các sự kiện chính trị, xã hội thế giới.

Câu hỏi 4: Luận án dẫn chứng sự kiện thực tiễn nào để minh chứng cho chức năng phản ánh hiện thực khách quan và làm diễn đàn nhân dân của báo điện tử? Trả lời: Tác giả dẫn chứng đợt tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013. Báo điện tử đã đăng tải toàn văn dự thảo để nhân dân trong nước và kiều bào nghiên cứu, đóng góp ý kiến. Số liệu từ Bộ Tư pháp được trích dẫn cho thấy tính đến ngày 17/5/2013, các cơ quan chức năng đã tiếp nhận khoảng 18 triệu lượt ý kiến góp ý của tập thể và cá nhân.

Câu hỏi 5: Tác giả tổng kết những số liệu nào về quy mô phát triển của báo mạng tại Trung Quốc? Trả lời: Dựa trên số liệu của CNNIC, luận án ghi nhận đến năm 2008 Trung Quốc có 1943 loại báo chí (tăng từ 336 loại năm 1950); số lượng bạn đọc báo mạng đạt 338 triệu người; số địa chỉ IP đạt 158 triệu (cao thứ hai thế giới); tỷ lệ tăng trưởng địa chỉ IP đạt 38%, tên miền tăng 190,4%; năm 2007 bình quân mỗi ngày có 20.000 hồ sơ xin đăng ký tên miền mới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Định hướng chính trị tư tưởng báo điện tử ở Việt Nam hiện nay" là công trình khoa học chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, giải quyết vấn đề cấp thiết trong lãnh đạo và quản lý truyền thông số. Tác giả đã hệ thống hóa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, phân tích kinh nghiệm quản lý quốc tế và đánh giá khách quan thực trạng báo điện tử Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ về chính trị, pháp lý, tổ chức nhân sự và công nghệ, góp phần bảo đảm cho báo điện tử phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.