CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC CẤP DOANH NGHIỆP 1.1 Chiến lược của doanh nghiệp 1. Khái niệm chiến lược của doanh nghiệp Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự xa xưa, thường được sử dụng để chỉ các kế hoạch lớn và dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương không thể làm. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển qua các lĩnh vực khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường,. Trong lĩnh vực kinh tế, chiến lược ra đời và phát triển từ nửa đầu thế kỷ XX.
Trong giai đoạn này môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều biến đổi lớn: xu thế quốc tế hóa các giao dịch kinh tế phát triển mạnh; xuất hiện nhiều công ty đa quốc gia với quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực; hình thành nhiều tập đoàn kinh tế dưới nhiều hình thức. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và quản lý diễn ra với tốc độ cao. Trong khi đó nguồn tài nguyên và môi trường ngày càng cạn kiệt, khách hàng đòi hỏi nhiều hơn, khó tính hơn. Tất cả những điều đó dẫn đến mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, phương thức cạnh tranh ngày càng đa dạng.
Vì vậy để cạnh tranh thành công thì các doanh nghiệp ngoài việc quản lý nội bộ cần phải có khả năng phản ứng với những biến đổi của môi trường. Tức là doanh nghiệp cần phải có chiến lược và phải thực hiện quản lý chiến lược nhằm tạo ra ưu thế trước đổi thủ cạnh tranh, tìm biện pháp đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Với các cách tiếp cận khác nhau, các nhà kinh tế học đã có quản điểm khác nhau về chiến lược. - Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Micheal Poter cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
- Theo cách tiếp cận coi chiến lược là một phạm trù khoa học quản lý, Alfed Chandle viết: “Chiến lược là xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của danh nghiệp, lực chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó”. - Theo cách tiếp cận kế hoạch hóa, James B Quinn cho rằng: “Chiến lược đó là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và chương trình hành động thành một thể thống nhất kế dính lại với nhau”. 8 - Theo William J Gluceck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”. Tuy có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau của từng học giả, của từng thời kỳ phát triển, nhưng tưu chung lại chiến lược của doanh nghiệp vẫn bao hàm các nội dung chính sau: + Xác định mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp + Đề ra và lựa chọn các giải pháp hỗ trợ để đạt được mục tiêu + Triển khai và phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.
Như vậy, ta có thể rút ra khái niệm chung về Chiến lược của doanh nghiệp như sau: - Khái niệm chiến lược của doanh nghiệp: “Chiến lược của doanh nghiệp là một kế hoạch quy mô lớn, xác định các mục tiêu tổng thể và các giải pháp cơ bản, định hướng dài hạn cho hoạt động của doanh nghiệp. Chiến lược phải đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh so với đối thủ; giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình; thể hiện sự hiểu biết của doanh nghiệp về những yếu tố cạnh tranh và hợp tác chính; và là căn cứ cho việc ra các quyết định quản lý trong doanh nghiệp”. - Nội dung cơ bản của định hướng chiến lược: “Định hướng chiến lược là quá trình xác định các mục tiêu chiến lược cũng như các giải pháp, công cụ để thực hiện mục tiêu chiến lược đó”. Về mặt nội dung định hướng chiến lược là quá trình xây dựng chiến lược và không ngừng hoàn thiện bổ sung chiến lược khi cần thiết.
Định hướng chiến lược cho một doanh nghiệp chính là xoay quanh việc xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp đó trên cơ sở phân tích vị trí của doanh nghiệp trong môi trường hoạt động của nó. Định hướng chiến lược phải trả lời được các câu hỏi sau: + Chúng ta là ai và đang ở đâu? + Chúng ta muốn đi tới đâu? + Làm thế nào để chúng ta tới được đó? + Làm thế nào để chúng ta trở nên vượt trội? Các vấn đề trong việc định hướng chiến lược bao gồm việc quyết định ngành nghề kinh doanh mới nào để tham gia, ngành kinh doanh nào nên rút ra, việc phân phối tài nguyên ra sao, nên hay không nên phát triển hoạt động hay mở rộng, tham gia vào thị trường thế giới hay không, liên kết hay hình thành một liên doanh và làm cách nào để tránh sự nắm quyền khống chế của đối thủ. - Mục đích của chiến lược cấp doanh nghiệp: Là xây dựng khả năng thành công của doanh nghiệp trong tương lai. Tiềm năng của doanh nghiệp có xu hướng 9 giảm dần theo thời gian trước ảnh ưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, trước nhu cầu ngày càng cao về chất lượng của khách hành và trước thành công của đối thủ cạnh tranh.
Duy trì và phát triển tiềm năng thành công trong tương lai là mục tiêu của xây dựng chiến lược trong doanh nghiệp. - Đặc trưng cơ bản của chiến lược: + Chiến lược bao trùm các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và thường thì chỉ các nhà quản lý cấp cao mới có đủ khả năng và tầm nhìn cần thiết để hiểu được những ảnh hưởng rộng lớn của quyết định chiến lược và có đủ thẩm quyền phân bố nguồn lực cần thiết. + Chiến lược ảnh hưởng lâu dài tới triển vọng của doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp đã cam kết thực hiện một chiến lược, hình ảnh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó thường gắn liền với chiến lược. Chiến lược là kế hoạch dài hạn (ít nhất là từ 3-5 năm) và tác động của chiến lược đối với doanh nghiệp còn kéo dài hơn nhiều.
+ Các vấn đề chiến lược thường định hướng tương lai vì được xây dựng dựa trên những dự đoán của những nhà quản lý hơn là những gì họ biết. Điều quan trọng là các dự báo càng chặt chẽ và chuẩn xác bao nhiêu càng giúp doanh nghiệp tìm được những lựa chọn chiến lược tốt nhất. Một doanh nghiệp chỉ thành công khi có vị thế chủ động (tiên liệu trước) đối với sự thay đổi của môi trường. - Vai trò của chiến lược: Một chiến lược tốt được thực hiện hiệu quả sẽ giúp các nhà quản lý và nhân viên mọi cấp xác định mục tiêu, nhận biết phương hướng hành động, góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp.
Trái lại, một doanh nghiệp không có chiến lược rõ ràng chẳng khác nào con thuyền không người lái. + Chiến lược làm rõ phương hướng hành động: Chiến lược tập trung vào phương hướng hành động nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, làm rõ và cụ thể hóa mục tiêu. Khi mục tiêu được nêu rõ trong chiến lược, nó sẽ nêu ra phương hướng hành động rõ ràng cho mọi người trong doanh nghiệp. Đa số sẽ thực hiện tốt hơn nếu họ biết họ được mong đợi phải làm gì và doanh nghiệp đang đi về đâu.
+ Chiến lược tạo căn cứ cho lập kế hoạch tác nghiệp: Nếu chiến lược được xây dựng chuẩn xác và được các nhà quản lý hiểu đúng thì nó sẽ là căn cứ để lập kế hoạch tác nghiệp. Nếu sự thống nhất này tồn tại và được vận dụng, nguồn lực của doanh nghiệp sẽ được phân bố hợp lý và hiệu quả hơn. Chiến lược cũng xác định những lĩnh vực hoạt động, khách hàng cũng như địa dư nơi sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp được cung cấp. Những lĩnh vực này càng được xác định rõ bao nhiêu thì nguồn lực sẽ được sử dụng hiệu quả hơn bấy nhiêu.
10 + Chiến lược làm tăng hiệu lực của doanh nghiệp: Nguồn lực không chỉ cần được sử dụng một cách hiệu quả mà còn phải được sử dụng theo cách đảm bảo tối đa hóa việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình quản lý chiến lược bao gồm việc phân tích thực trạng, xây dựng các chiến lược phù hợp, thực hiện các chiến lược đó và đánh giá, điều chỉnh hoặc thay đổi chiến lược khi cần thiết. Mỗi nguồn lực của doanh nghiệp sẽ được sử dụng một cách cụ thể tại những thời điểm cụ thể. Chiến lược sẽ đảm bảo các nguồn lực được sử dụng cụ thể như thế nào.
Nếu điều này đạt được thì doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu lực. + Chiến lược tạo ra sự biến đổi về chất cho doanh nghiệp: Mọi doanh nghiệp để có sự biến đổi đột biến về chất đòi hỏi phải tiến hành các hoạt động của mình một cách khôn ngoan và trong một thời gian đủ dài. Chính chiến lược với thời gian khá dài sẽ giúp cho doanh nghiệp từ các biến đổi về lượng đến chỗ biến đổi về chất. Đây chính là quy luật phát triển biện chứng: các biến đổi về lượng tích đủ đến ngưỡng sẽ tạo ra các biến đổi về chất.
+ Tạo sự đồng thuận của cán bộ công nhân viên: Chiến lược được ban hành, phổ biến rộng rãi sẽ góp phần tạo nên tính hiệu lực cho doanh nghiệp bằng cách tạo ra sự đồng thuận của đa số cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp vì họ sẽ biết cái đích sẽ hướng tới của doanh nghiệp mà nỗ lực thực hiện. Trong những doanh nghiệp nơi mà quy trình hoạch định và quản trị chiến lược được tuân thủ, mọi người sẽ hài lòng hơn với vai trò công việc được mô tả rõ ràng, do đó làm giảm xung đột giữa các vai trò và sự mơ hồ của công việc. Các cấp độ chiến lược của doanh nghiệp Một doanh nghiệp điển hình thường có ba cấp độ chiến lược: (1) chiến lược cấp doanh nghiệp, (2) chiến lược cấp ngành/lĩnh vực và (3) chiến lược cấp chức năng. Chiến lược cấp doanh nghiệp Các chiến lược cấp ngành Các chiến lược cấp chức năng Hình 1.1: Các cấp độ chiến lược của doanh nghiệp 1.
Chiến lược cấp doanh nghiệp. Chiến lược cấp doanh nghiệp do bộ phận quản lý cao nhất vạch ra nhằm định hướng cho hoạt động của toàn doanh nghiệp. Chiến lược cấp doanh nghiệp sẽ trả lời các câu hỏi sau: 11 - Doanh nghiệp cần đạt được những mục tiêu cơ bản nào?