CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN GÓP VỐN 1. Khái niệm và đặc điểm của góp vốn thành lập doanh nghiệp Vốn là yếu tố quan trọng không thể thiếu khi thành lập bất kì loại hình doanh nghiệp nào. Nó không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của doanh nghiệp. Một trong các nguồn quan trọng và chủ yếu nhất để hình thành vốn của doanh nghiệp chính là vốn góp của các thành viên khi thành lập doanh nghiệp.
Khái niệm góp vốn Theo Từ điển Luật học (2006): “Góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào Doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp”. Góp vốn thành lập công ty là việc một người chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty do tự mình hoặc cùng với người khác thành lập nhằm mục tiêu kiếm lời. Tài sản góp vốn về nguyên tắc là tất cả các loại tài sản mà theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tuy nhiên pháp luật có thể qui định cụ thể về tài sản góp vốn đối với từng trường hợp cụ thể.
Theo Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014, tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, 8 giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”. Việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản cụ thể lấy quyền lợi trong công ty thường được qui đổi theo tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là tỉ lệ vốn góp mà chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu của công ty góp vào vốn điều lệ.
Lợi ích mà người góp vốn nhận được là phần vốn góp hoặc cổ phần trong vốn điều lệ của công ty. Các phần vốn góp và cổ phần này không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình (vật), cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ hoạt động sáng tạo của trí tuệ (đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ). Phần vốn góp phải là tài sản của người góp vốn và được chuyển từ người góp vốn sang công ty. Tài sản góp vốn vào công ty và phần vốn góp là hai khái niệm khác nhau.
Phần vốn góp là khoản vốn được tính theo tỷ lệ của người góp vốn trong tổng số vốn điều lệ của công ty mới hình thành hoặc nhận góp vốn. Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của người góp vốn. Về mặt pháp lý, vốn điều lệ của công ty là do các thành viên, các cổ đông đóng góp. Đối với chủ nợ của công ty, số tiền mà các thành viên, cổ đông bỏ vào công ty chính là sự cam kết lâu dài cho việc đầu tư.
Trong trường hợp công ty bị phá sản, các chủ nợ có thể thu hồi nợ trên số tài sản hình thành từ vốn góp cùng với các tài sản khác của công ty. Việc góp vốn vào công ty bằng cách chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty để đổi lại tư cách sở hữu chủ hoặc đồng sở hữu chủ của công ty đó. Đặc điểm của góp vốn Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy góp vốn có các đặc trưng sau: Thứ nhất, góp vốn là hành vi pháp lý làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn, làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty và tạo lập ra công ty thuộc sở hữu của người góp vốn hoặc thuộc sở hữu chung của những người góp vốn trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích đã đăng ký của công ty và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ trong trường hợp công ty bị phá sản.
Khi tài sản được một thành viên, một cổ đông góp vào công ty, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu từ thành viên đó, cổ đông đó sang công ty. Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hiện thông qua cách giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên góp vốn. Bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cổ đông sáng lập đã tạo ra sản nghiệp ban đầu cho công ty để đổi lại quyền lợi của mình trong công ty. Thứ hai, quyền lợi này được xác định theo các quy định của pháp luật và điều lệ của công ty.
Việc góp vốn hay hùn vốn là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh. Đó chính là ý nghĩa kinh tế quan trọng xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của công ty trong lịch sử. Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, việc góp vốn thành lập công ty có khi chỉ đơn giản là để nhà đầu tư kiếm lời từ vốn góp của mình chứ không thực sự chú trọng vào mục đích thực hiện một hoạt động kinh doanh nào cụ thể. Góp vốn vào công ty cũng dễ dàng chuyển nhượng lại phần vốn góp đó cho người khác để hưởng chênh lệch hoặc thu lại một phần vốn.
Số lượng người góp vốn được mở rộng, khả năng bán lại phần vốn dễ dàng, người góp vốn có thể thay 10 đổi nhanh chóng song công ty vẫn tồn tại, đó là sự khác biệt lớn của công ty đối vốn so với công ty đối nhân. Thứ ba, góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Hành vi này là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn đối với tài sản góp vốn cụ thể, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của công ty đối với tài sản góp vốn đó, và làm phát sinh quyền sở hữu của người góp vốn đối với phần vốn góp vào công ty theo tỷ lệ với các phần vốn góp khác hoặc quyền sở hữu của người góp vốn (người mua cổ phần) đối với một hoặc một số cổ phần của công ty. Một vấn đề kinh tế khác khi các thành viên, các cổ đông góp vốn vào công ty là việc thực hiện quyền quản lý công ty để đảm bảo việc sử dụng đồng vốn của mình sẽ đem đến hiệu quả kinh tế cao nhất.
Do là công ty đối vốn điển hình nên quyền quản lý trong công ty tương ứng với tỷ lệ số vốn góp vào công ty thông qua tỷ lệ vốn góp của từng thành viên và số lượng cổ phần nắm giữ của từng cổ đông.[1] Thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ pháp lý được tạo lập. Nghĩa vụ đối ứng giữa người góp vốn thành lập công ty và công ty khác với nghĩa vụ đối ứng giữa các bên trong quan hệ mua bán hay cho thuê. Hành vi góp vốn đổi lấy quyền lợi cũng khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở chỗ khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc chuyển giao đó mà chỉ nhận lại được là một thứ quyền đặc biệt đó là quyền sở hữu gắn liền với quyền lợi của chủ sở hữu công ty. Quyền lợi này có thể tính thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng hình thức công ty và quy chế riêng có thể có.
Quyền lợi này khi tham gia vào công ty thì đương nhiên trở thành viên của công ty và được tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên. Có số 11 phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp; kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ đăng ký thành viên, sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hàng năm, sổ biên bản họp Hội đồng thành viên, các giấy tờ và tài liệu khác của công ty. Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản.
Ngoài ra, thành viên khi góp vốn vào công ty còn được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty… Như vậy, việc góp vốn thành lập công ty có nét giống với sự trao đổi tài sản giữa hai chủ thể, trong đó người góp vốn bỏ ra tài sản và nhận lại quyền lợi từ công ty. Do đó, khi góp vốn vào công ty thì người góp vốn có phần vốn góp luôn luôn gắn với công ty, có giá trị thay đổi theo tình hình tài chính của công ty và khi công ty không còn tồn tại thì quyền tài sản này cũng sẽ mất đi. Tài sản góp vốn 1. Khái niệm tài sản Tài sản là một từ ngữ quen thuộc đối với bất kì ai, đó là vấn đề trọng tâm của các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng.
Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú và đa dạng, do vậy việc phân loại tài sản có vai trò quan trọng trong giải quyết các vấn đề tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên, trong thực tế khái niệm tài sản được hiểu mơ hồ, chưa có sự thông nhất chung đề có thể xác định đối tượng đó có phải là tài sản hay không và hậu quả gây ảnh hưởng đến giao dịch dân sự, thương mại và kinh tế. Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì tài sản được liệt kê khép kín gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. 12 Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình.